Giới thiệu

========

Lời hay ý đẹp

========

Kinh

========

Luật

========

Luận

========

Phật học

========

Pháp âm

========

Giáo dục

========

Việt Nam

========

Diễn đàn

========

Sách

========

Tổ đình

========

Quê hương

========

Tin tức

========

Tác giả

========

Liên kết

========

Kinh điển


 

Những vấn đề cốt lõi trong

Kinh Trung A Hàm

Biên soạn: Thích Hạnh Bình


Mục lục

Lời tựa

 

PHẦN 1

1. Cuộc đời đức Phật
2. Cuộc sống của đức Phật trước khi xuất gia
3. Đức Phật được mô tả dưới góc độ thần thoại
4. Như Lai sanh ra và lớn lên từ Thế gian nhưng không bị ô nhiễm
5. Ngoại đạo cho rằng Như lại là người có phép huyễn thuật làm mê hoặc thế gian
6. Thế Tôn là người nói với làm đi đôi với nhau
7. Thế tôn vì có 5 pháp khiến cho người khác tôn trọng
8. Những yếu tố khiến vua Ba Tư Nặc cung kính Thế Tôn
9. 5 đặc điểm của Thế Tôn khiến mọi người cung kính cúng dường, (5 điểm đó không phải là những vấn đề ăn ít hay ăn nhiều, là những điểm có lien quan đến trí tuệ)
10. Ngoại đạo cho rằng Như Lai là người phá hoại sự sống
11. 32 tướng tốt
12. Một trong hai con đường mà thái tử Tất Đạt Đa phải lựa chọn
13. Ma Ba Tuần yêu cầu đức Phật không nói pháp
14. Sự kiện Thế Tôn nhập Niết bàn
15. Kinh nghiệm tu tập của đức Thế Tôn
16. Đức Phật không phải là nhà huyễn thuật
17. Mười hiệu
18. Mục đích đức Phật ra đời
19. Nội dung giáo dục của đức Phật
20. Lòng bao dung của đức Phật
21. Những điều kiện cần thiết cho việc tu tập và hoằng dương Phật pháp
22. Lộ trình tu tập
23. Bảy thiện pháp
24. 7 loại phước của thế gian và xuất thế gian
25. Ngã và vô ngã sở
26. Có Ngã hay không có ngã
27. Cuộc đời là vô thường
28. 10 ví dụ về tính vô thường
29. Chuyện tiền thân
30. Mục đích của việc xuất gia tu học là cầu giải thoát
31. Tôn giả Mãn Từ Tử
32. A nan được chỉ định làm thị giả cho Phật và những vấn đề liên quan đến việc thị giả
33. Tôn giả Xá Lợi Phất
34. Tôn giả Xá Lợi Phất giải thích câu: Sanh đã tận
35. Tôn giả Xá Lợi Phất đi các nơi để giáo hoá chúng sinh
36. Tỷ kheo vu khống Tôn giả Xá Lợi Phất và lời giải thích của Tôn giả
37. Tôn giả Xá Lợi Phất giảng cho Tôn giả Cấp Cô Độc khi lâm trọng bệnh
38. Tôn giả Xá Lợi Phất dùng Tứ Đế giải thích Ngũ Uẩn (Abhidhamma)
39. Tôn giả Xá Lợi Phất giải thích Tứ Đế
40. Lợi ích của chánh tư duy và sự nguy hiểm của bất chánh tư duy
41. 7 loại phiền não
42. 14 vấn đề siêu hìnhđức Phật không giải thích
43. Đức Phật giải thích lý do tại sao Ngài không trả lời 14 vấn đề siêu hình
44. Nghiệp
45. Thân không làm ác miệng không nói ác không đồng nghĩa là người thiện
46. Lý do nào trong xã hội có sự khác nhau về giàu nghèo, đẹp xấu
47. Quan điểm khác nhau giữa người trí và kẻ ngu về luật nhân quả
48. 4 hiện tượng khác nhau giữa nhân và quả dẫn đến quan điểm khác nhau giữa ngoại đạo và đức Phật
49. Sự khác nhau giữa quan điểm nghiệp của Phật giáo và Kỳ Na Giáo
50. Quan điểm của Phật về vấn đề cầu nguyện, ước nguyện

 

PHẦN 2
51. Nghiệp không thể cầu nguyện van xin
52. Làm ác đọa địa ngục làm thiện sanh thiên, không cần cầu nguyện
53. Tu là sự quán sát 3 nghiệp
54. Đức Phật không chấp nhận thuyết định mệnh
55. Sự nguy hiểm của người không biết tàm quí
56. Tỷ kheo ác hạnh
57. Tư cách của vị Tỷ kheo
58. Những việc cần làm gấp của người xuất gia
59. Thế nào là Tỷ kheo bị suy thối hay tăng trưởng
60. Không nên vì người khác làm ác
61. 4 Vô Lượng Tâm
62. Thế nào gọi là trí tuệ và trí tuệ có chức năng gì?
63. Sự dị biệt giữa bất thiện và căn bản bất thiện
64. Sự dị biệt giữa thiện và căn bản thiện
65. Người bất thiện
66. Hữu lậu
67. Định nghĩa các từ Phật học
68. Ai thấy Duyên khởi người ấy tức thấy pháp
69. Con người nhận thức thế giới ngoại bằng biểu tượng
70. Xuất gia với lý do không chơn chính
71. Mục đích xuất gia
72. Nếu cha mẹ không đồng ý thì không được xuất gia
73. Ý chí xuất gia dũng mãnh của Lại Tra Hoà La
74. Tỷ kheo cần phải biết hổ thẹn khi chưa làm trọn bổn phận
75. Tôn giả Bạc Câu la và đời sống tri túc của Ngài
76. Điểm đặc thù của biển
77. 8 đặc điểm của Phật pháp
78. Nguyên nhân xảy ra động đất
79. Đức Phật thuyết giảng cho Bà La Môn, Sát Đế Lợi.., là phương tiện
80. Tỷ kheo xúc nhiễu Thế Tôn và Đại chúng
81. Bốn đôi 8 vị
82. Tứ Nhiếp Pháp
83. Mục đích của việc giữ giới
84. Tại sao giới càng nhiều thì người chứng quả càng ít
85. Liên quan đến giới Tỷ kheo
86. Cung kính, oai nghi
87. Tàm quí
88. Dù xuất gia hay tại gia đức Phật chỉ khen ngợi người có chánh hạnh
89. Nhân quả không phân biệt là người tại gia hay xuất gia
90. Qúa trình hình thành phiền não và đoạn trừ phiền não
91. Sự lợi ích của việc gần gũi người thiện tri thức
92. Lộ trình đi đến Niết Bàn
93. Đều là đệ tử Thế Tôn, tại sao có người chứng và có người không chứng
94. 5 pháp khiến cho tâm Tỷ kheo được an tịnh
95. 7 báu của chuyển luân thánh vương
96. 7 Giác Chi
97. 4 Châu
98. 4 châu là 4 phương của nước Ấn Độ
99. Tất cả mọi pháp đều biến hoại
100. Duyên khởi

 

PHẦN 3
101. Nếu ngũ uẩn là vô thường vô ngã thì ai thọ nhận quả báo
102. Đức Phật dùng thuyết Nhân quả giáo dục xã hội 
103. Tỷ kheo thụ hưởng vật chất phi pháp
104. Vấn đề Khất thực và lợi dưỡng
105. Tỷ kheo thụ hưởng sự cúng dường đúng pháp
106. Cách truyền thừa vương vị và dùng chánh pháp cai trị của các vua Ấn Độ
107. Sau khi Thế Tôn nhập diệt ai là người kế thừa
108. Truyền thừa chánh pháp
109. Sau khi Như Lai diệt độ, Tỷ kheo lấy ‘giới’ hay lấy ‘pháp’ làm thầy?
110. Tỷ kheo nên thừa tự pháp không nên thừa tự tài vật
111. Thế giới cực lạc (có liên quan đến Kinh A Di Đà)
112. Bằng cách nào để trang nghiêm thân, báo ân Phật?
113. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi
114. Có hay không có đời sau
115. Tăng đoàn bị rạn nứt chia rẽ
116. Cách đối xử với nhau của các tỷ kheo
117. Nguồn gốc của sự chứng đắc (8 điều giác ngộ của đại nhân?
118. Dục là nguồn gốc của khổ đau
119. Bản chất của dục vọng
120. Hạnh phúc của sự hưởng thọ dục lạc cũng giống như hạnh phúc của người gãi ghẻ ngứa
121. 8 ví dụ về dục
122. Không bệnh là đệ nhất, Niết bàn là tối thượng
123. Mục đích sống trong rừng núi của đức Phật
124. Phật tán thán Tỷ kheo sống nơi vắng vẻ
125. Bình đẳng trong việc xuất gia tu học Phật pháp
126. Nơi nào là nơi sống thích hợp cho người xuất gia?
127. Tại sao đức Phật thọ ký đệ tử thọ sanh nơi này nơi kia
128. Ma Ba Tuần khuyên Thế Tôn không nên trái ý Phạm Thiên
129. 6 thông
130. Thế Tôn hiện thần thông
131. Thần thông là một trong 3 cách giáo dục của Phật
132. Tứ Vô lượng tâm
133. Thời kỳ Trung A hàm chư Tăng đã sống định cư có phòng ốc
134. Thời đức Phật các Tỷ kheo tự may y
135. Phóng dật là nhân của khổ đau
136. 4 thiền
137. 4 loại thiền khác nhau
138. Pháp môn tu tập Tứ niệm xứ
139. Tu tập pháp môn Niệm thân
140. Quán bất tịnh 
141. Các Tỷ kheo tranh luận về giới về lời Phật dạy
142. Nguyên tắc tham gia thảo luận Phật pháp
143. Chê trách người dua nịnh
144. Phương pháp trừ bịnh buồn ngủ
145. Những vấn đề cần tránh khi thuyết pháp
146. Pháp chân nhân và pháp phi chân nhân
147. Uẩn xứ giới
148. 4 quả Sa môn
149. Người ô uế và người không ô uế
150. Vì dụ tấm gương

 

PHẦN 4
151. Tứ tướng trong kinh A hàm
152. Phiền não khác nhau phải dùng phương pháp khác nhau để đoạn trừ
153. Tu chỉ là sự kiểm tra lại tâm mình
154. Tu chỉ là sự thay đổi cách suy tư
155. Cứu cánh chỉ có một
156. Pháp tu của phái loã thể 
157. Đức Phật không cấm bất cứ điều gì, Ngài chỉ cấm những việc làm liên hệ đến tham sân và si
158. Đề Bà Đạt Đa sanh vào địa ngục
159. Đi tìm lõi cây
160. Sự kiện Cù Đàm Di xuất gia
161. Bố tát: Thế Tôn và Tỷ kheo cùng Bố tát
162. Người mù dẫn người mù
163. Tu tập như lên giây đờn
164. Bát nạn
165. 5 giới
166. 4 pháp tăng thượng tâm
167. Sự bần cùng của người xuất gia
168. Lời khuyên của đức Phật dành cho người tại gia, sống gia đình
169. Tại gia: Người kiếm tài vật tối thượng
170. Hữu học và vô học
171. 7 điều không tốt cho người có tâm nóng giận
172. Tỷ kheo bị cư sĩ đuổi ra khỏi chùa
173. Thời kỳ A hàm người Ấn đã dùng thuyền vươn ra biển cả
174. Phương tiện tìm phương hướng của người xưa khi đi biển
175. Tuổi thọ càng ngày càng giảm, đời sống càng túng thiếu, do lòng tham lam
176. Chuyện ma quỷ
177. Ma Ba Tuần phá hoại Phật pháp
178. Lễ lạy 6 phương và quan điểm của Phật đối với vấn đề này
179. Giáo pháp của Thế Tôn chỉ là những phương tiện đưa người đến gỉai thoát
180. Pháp nào là pháp cần phải tránh và không cần phải tránh
181. Lời dạy của Thế Tôn là chân thật
182. Nước Ma Kiệt Đà và Bạt Kỳ thù nghịch nhau
183. Đức Phật khuyên vua A Xà Thế không đánh nước Bạt Kỳ vì 7 yếu tố
184. 7 nguyên tắc làm cho Tăng già không bị suy yếu
185. Có 4 hiện tượng khiến chúng ta tin tưởng Thế Tôn
186. Sự khác biệt giữa người tu tập và không tu tập
187. Nỗi khổ của người tại gia và xuất gia khác nhau
188. Niềm vui của người tại gia và xuất gia khác nhau
189. Ước mơ của vua là gì?
190. Ước mơ của cư sĩ là gì?
191. Ước mơ của người nữ là gì?
192. Ước mơ của kẻ cướp là gì?
193. Ước mơ của Sa-môn là gì?
194. Giai cấp Bà La Môn
195. Trong 4 giai cấp, giai cấp nào phục vụ cho giai cấp nào
196. Thế nào gọi là giai cấp là Bà La Môn
197. Thế Tôn không chấp nhận chế độ phụng sự của 4 giai cấp
198. Chân lý không tùy thuộc vào quan điểm chủ trương
199. Bố thí đúng pháp
200. Trong 3 thời: quá khứ hiện tại và vị lai đức Phật chú trọng thời gian hiện tại

 

PHẦN 5
201. Ý nghĩa khái niệm trung đạo
202. Nên nói những lời nói nào và không nên nói những lời nói nào?
203. Địa phương ngữ
204. Thế nào gọi là Tỷ kheo Đa Văn
205. Thế nào gọi là Tỷ kheo thông minh?
206. Đàn nai và người thợ săn
207. 7 loại bố thí cho Tăng chúng 
208. Bố thí cho từng người
209. Bố thí như thế nào để được phước đức?
210. Vô minh là nguồn gốc của phiền não 
211. Thế nào gọi là ngu si và trí tuệ
212. Thế nào gọi là xứ, phi xứ?
213. Những việc tỷ kheo cần phải làm
214. Các đại đệ tử của Phật có quan điểm khác nhau về việc làm thế nào để cho Phật pháp được hưng thịnh
215. Hoà hợp thanh tịnh 
216. Làm thế nào để biết một vị khác có thực tu thực chứng hay không?
217. Quan điểm của Phật về ‘Nhất thiết trí, nhất thiết kiến’
218. 8 chánh đạo
219. Khái niệm ‘không’ trong Kinh A hàm
220. Thế nào gọi là phụng sự chánh pháp
221. Lý do Phật chế không ăn chiều
222. Dù chỉ là ngôi nhà rách, người vợ chột mắt cũng rất khó bỏ
223. Tỷ kheo than cận với Tỷ kheo Ni
224. Lời nói
225. Thái độ Tỷ kheo khi bị khiển trách
226. Một ngày ăn một bữa
227. Có hai loại lạc: Lạc liên hệ giải thoát và lạc liên hệ khổ đau
228. Tùy cơ thuyết giáo
229. Sự kiện kỳ Na giáo rạn nứt chia rẽ
230. Có phải Kinh Châu Na này ghi lại sự chia rẽ trong Tăng đoàn không?
231. Có liên quan đến Đại Thiên
232. Luật: bảy phương pháp đình chỉ đấu tranh
233. Luật: Pháp Yết Ma
234. Thế nào gọi là người ngu si
235. Địa ngục
236. Làm được thân người là khó
237. Thế nào là người trí tuệ?
238. Phật pháp bị hiểu sai và sự nguy hiểm của nó
239. Hiểu đúng Phật pháp và sự lợi ích của nó
240. Giáo pháp như chiếc bè qua sông
241. Thế Tôn đối với những vấn đề khen chê
242. 3 loại trai giới
243. Hai loại mong cầu
244. 5 hạ phần kiết sử
245. Vấn đề đời trước đời sau và nhất thiết trí
246. Ngoại đạo phê bình Thế Tôn là người không biết biên tế đời trước đời sau
247. Sự khác nhau giữa chết và điệt thọ tưởng định
248. Sự khác nhau giữa các định
249. Mối liên hệ giữa thọ, tưởng tư
250. Mối quan hệ giữa 5 căn và ý căn (Abhidhamma)
251. Còn gì sau khi chết?
252. Bình đẳng giữa 4 giai cấp chỉ khác nhau hành nghiệp của mỗi người
253. Những việc làm người trí chê trách 
254. 37 phẩm trợ đạo
255. Những vấn đề ngoại đạo thảo luận 

 

Lời tựa

 

Phật giáo Bắc truyền có 4 bộ A hàm (Àgamma): “Kinh Trường A hàm”(《長阿含經》), “Kinh Trung A hàm”(《中阿含經》), “Kinh Tạp A hàm” (《雜阿含經》), “Kinh Tăng Nhất A hàm” (《增一阿含經》), tương đương với Kinh điển Nam truyền Pàli là “Kinh Trường Bộ” (Dighanik?ya), “Kinh Trung Bộ” (Majjhimanik?ya), “Kinh Tương Ưng Bộ” (Sa×yuttanik?ya), “Kinh Tăng Chi Bộ” (Aºguttaranikaya). Ngoài ra, Nam truyền còn có một bộ nữa là “Kinh Tiểu Bộ” (Khuddakanikàya) tương đương với Hán Tạng “Bổn Sanh” (《本生》) và “Bổn Sự” (《本事》). Thế nhưng Phật giáo Bắc truyền không biên tập hai kinh này vào A hàm, giống như Nam truyền có tất cả là 5 bộ Nikàya (Pannaca-Nikàya). Phải chăng các nhà biên tập Phật giáo Bắc truyền không chấp nhận nội dung của hai kinh này thuộc vào thời kỳ A hàm? Đây là điều chúng ta cần phải nghiêm túc nghiên cứu, để làm sáng tỏ vấn đề.

Theo các nhà nghiên cứu cho rằng hai hệ kinh điển này là nguồn tư liệu sớm nhất của Phật giáo, được kết tập dưới triều vua A Dục (Asoka). Theo nguồn tư liệu Bắc truyền (Hán dịch) ghi lại, sự kiện này xảy ra vào khoảng hơn 100 năm, sau khi Phật nhập diệt, tức thời vua A Dục. Nhưng nguồn tư liệu Phật giáo Nam truyền lại ghi rằng, sự kiện này xảy ra vào năm 218, sau khi Phật nhập diệt, cũng vào thời vua A Dục. Sự khác nhau ở đây về niên đại, tính từ sau khi Phật nhập diệt, sai biệt gần 100 năm, nhưng điểm giống nhau giữa hai nguồn tư liệu này là đều xác định sự kiện kiết tập vào thời vua A Dục. Ở đây, tôi không có ý thảo luận về niên đại đúng sai của hai nguồn tư liệu  mà chỉ muốn nhấn mạnh một điều: hai nguồn tư liệu này được biên tập thành chữ viết sớm nhất của Phật giáo.

Năm (5) bộ Nikàya của Phật giáo Nam truyền nguyên là bản gốc viết bằng tiếng Pàli. Nhưng nguồn tư liệu Phật giáo Bắc truyền, hiện còn 4 bộ A hàm được biên tập trong “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” ở quyển 1 và 2 chỉ là bản dịch, không phải bản gốc. Thế thì ở đây chúng ta đặt ra câu hỏi: Nếu như 4 bộ A hàm là bản dịch thì bản gốc của nó là gì? bằng tiếng Pàli hay tiếng Phạn? và hiện giờ nó ở đâu? đây là một trong những câu hỏi mà các nhà nghiên cứu thường thắc mắc. Dù gì đi nữa, cả hai nguồn tư liệu này chiếm một vị trí khá quan trọng trong lãnh vực tìm hiểu Phật giáo Ấn độ. Nó là hai nguồn tư liệu bổ xung cho nhau để làm cho Phật giáo Ấn độ càng ngày càng được rõ ràng hơn.

Dẫu rằng, Phật giáo Việt nam đối với công việc phiên dịch 2 bô Đại Tạng Kinh Nam và Bắc truyền này sang Việt ngữ vẫn chưa hoàn tất, nhưng riêng 5 bộ Nikàya và 4 bộ A hàm, Phật giáo Việt Nam đã dịch xong. Từ nguồn Kinh tạng bằng Việt ngữ cho thấy, trước năm 1975, 4 bộ A hàm đã được Hoà thượng Thiện Siêu, Thanh Từ, và các Tăng sinh của hai viện Hải Đức Nha Trang và Huê Nghiêm Sàigòn đã dịch sang Việt ngữ, nhưng không biết vì lý do gì những bản kinh này vẫn chưa xuất bản vào thời đó, chỉ lưu truyền với nhau bằng bản quây Roneo. Riêng 5 bộ Nikàya của Phật giáo Nam truyền đã được Hoà thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ trước năm 1975, và hai bộ đầu cũng đã được Viện Đại học Vạn Hạnh xuất bản, tức “Kinh Trường Bộ” và “Kinh Trung Bộ”, phần còn lại, 3 bộ, phải chờ đến một thời gian sau khá lâu mới được xuất bản. Đến năm 1981, Viện Nghiên cứu Phật học Việt nam ra đời, Ban in ấn và phát hành Đại Tạng Kinh Việt nam cũng được thành lập. Vài năm sau đó, Viện đã tiến hành biên tập “Đại Tạng Kinh Việt Nam”. Qua 35 tập đã được Viện ấn hành chính là 5 bộ Nikàya và 4 bộ A hàm. Từ khi Viện Nghiên cứu ấn hành các kinh điển này, không ít giới Phật tử cũng như Tăng, Ni người Việt Nam đã chịu ảnh hưởng tư tưởng của hai bô kinh này. Theo tôi nó sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu các hệ tư tưởng Phật học khác, ngay cả Phật giáo Đại thừa., không dừng lại ở đó mà nó còn là kiến thức cơ bản cho các Tăng Ni sinh khi đi du học ngành Phật học ở nước ngoài.

Ngoài bản dịch Kinh A hàm vừa được đề cập, còn có một bản dịch chuẩn xác hơn, đó là bản dịch “Kinh Trường A hàm”, “Kinh Trung A hàm”và “Kinh Tăng Nhất A hàm” của Hoà thượng Thích Tuệ Sỹ và bản dịch “Kinh Tạp A hàm” của Thượng tọa Thích Đức Thắng. Có thể nói, cho đến nay, ở Việt nam, đây là bản dịch tốt nhất, có giá trị trong lãnh vực học thuật cao. Điểm nổi bật của công trình dịch thuật này chính là phần chú thích, dịch giả đã bỏ nhiều thời gian so sánh đối chiếu với bản Pàli, trích dẫn và phân tích cho độc giả hiểu được nội dung của kinh và mở rộng tầm hiểu biết của mình với những bản kinh khác. Có thể nói, công trình phiên dịch này, không những nó đóng góp cho Phật giáo Việt nam một công trình dịch thuật tiêu chuẩn, còn cống hiến cho nền văn hoá nước nhà ngày càng phong phú. Được biết bản dịch này đã được Hội Phật giáo thế giới Linh Sơn xuất bản, nhưng trước mắt tôi vẫn chưa có bản dịch này, phải sử dụng bản dịch trên trang websites: www.quangduc.com. Dẫu rằng, trên websites rất tiện lợi cho việc tìm tài liệu, nhưng rất khó khăn cho người nghiên cứu khi trích dẫn. Đó là lý do tại sao trong tác phẩm này, khi  trích dẫn, tôi  không ghi rõ nhà xuất bản, năm xuất bản cũng như số trang cụ thể.

Như chúng ta được biết “Kinh Trung A hàm”, là một trong 4 bô kinh thuộc hệ A hàm của Phật giáo Bắc truyền. Bản kinh này được Ngài Phật Đà Da Xá (Buddhayasas) và Trúc Phật Niệm () dịch sang Hán văn, Thích Tuệ Sỹ dịch sang Việt văn, được phân thành 18 phẩm, tổng cộng có 222 kinh. Theo một số học giả cho rằng bản “Trung A hàm” và “Kinh Tạp A hàm” là bản kinh của phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvàstvàdin). Theo tôi, trong 4 bộ A hàm, “Kinh Trung A hàm” là bộ kinh quan trọng nhất, vì nội dung của từng bài kinh trong Trung A Hàm không quá giản lược như các bài kinh trong “Tạp A hàm” cũng không quá dài như kinh “Trường A hàm”, và cũng là bản kinh thể hiện quan điểm khá rõ ràng  của đức Phật, và là bản kinh ghi lại toàn bộ những quan điểm tư tưởng đã được đức Phật (và) cùng các đại đệ tử của Ngài thuyết giảng cho mọi thành phần trong xã hội, chủ yếu là người xuất gia, với những bài pháp có nội dung thật sâu sắc, mang tính thực tiễn và khoa học, ngược lại những quan điểm truyền thống và phi truyền thống ở Ấn độ lúc bấy giờ, Ngài không đồng tình với lối tu khổ hạnh truyền thống hay tế tự vô ích, cũng không chấp nhận cuộc sống trụy lạc, đề cao sự hưởng thọ dục vọng. Với chủ trương muốn thành đạt mục đích giác ngộ giải thoát, hành giả cần phải có một thân thể khoẻ mạnh và một tinh thần thật sáng suốt mới có thể thực hành giáo lý của Ngài, tránh xa những cạm bẫy của thế gian.  Những lời dạy đó, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể thực hành được, và ai thực hành đúng như lời Ngài đã dạy thì người ấy chắc chắn sẽ đạt đến mục đích an lạc. Ngoài ra, còn có những bài pháp dành cho giới tại gia cư sĩ, từ giai cấp vua chúa quan lại cho đến người dân bình thường, cả những giới triết học và các tôn giáo tín ngưỡng. Tùy theo sự tiếp thu của từng đối tượng, đức Phật có những lời khuyên, lời giảng dạy khác nhau, với mục đích làm cho người nghe được giác ngộ giải thoát. Đây là toàn bộ nội dung ý nghĩa chính trong kinh này.

Tuy nhiên, “Kinh Trung A hàm” là một bộ kinh khá dày, gồm 4 tập, mỗi tập trên 700 trang, với văn phong cổ xưa, khúc chiết, đặt biệt mang nặng tính logic, lại trùng lấp quá nhiều trong một bài kinh, dễ tạo cảm giác buồn chán cho người đọc. Hơn nữa, Phật giáo Việt nam chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc, thích lối lý luận của Phật giáo Đại thừa, do vậy Kinh điển của Thượng tọa bộ lại càng ít được nghiên cứu trì tụng hơn, nên sự hiểu biết cũng  vì thế mà bị hạn chế. Tôi nghĩ mang một trạng thái tâm lý như vậy, nó là bức tường ngăn cản sự hiểu biết, không bổ ích cho việc tu, việc học của chúng ta.

Rất may, những năm học Đại học ở Học Viện Phật giáo Việt nam, tôi đã được học qua hệ kinh điển này từ Hoà thượng Minh Châu, Thượng tọa Thiện Nhơn, đến khi đi du học ở Taiwan, được học với những giáo sư chuyên về Phật học, lại được tiếp cận với những tác phẩm nổi tiếng, nên tất cả những công trình nghiên cứu này đều rất chú trọng đến những bộ kinh A hàm hay Nikàya. Chính vì thế, trong thời gian học tập nghiên cứu ở đây, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu những bô kinh này. Qua đó, nó giúp cho tôi hiểu về Phật học tương đối rõ ràng và trật tự hơn. Một kinh nghiệm nhỏ mà tôi muốn giới thiệu cùng những người muốn tìm hiểu Phật học là, chúng ta cần phải có phương pháp nghiên cứu hữu hiệu, nó mới giúp ta rút ngắn thời gian cho việc nghiên cứu, học tập. Phương pháp của tôi rất đơn giản là, khi tôi đọc một quyển kinh, một quyển sách, ở trong đó có điểm nào cần lưu ý, có thể đó là ý kiến hay, thậm chí là quan điểm có thể tranh luận, tôi đều ghi chép vào sổ tay riêng của mình. Nhờ vậy, khi tôi viết một bài nghiên cứu không mấy (vất vả) khó khăn, vì những gì mà tôi muốn thảo luận, nó đã nằm sẵn trong sổ tay của tôi rồi, không cần phải vất vả tìm tòi tài liệu., quyển sổ tay đã giúp tôi nhớ mọi điều.

Tác phẩm mà độc giả đang cầm trên tay chính là một phần quyển sổ tay của tôi, chuyêntra cứu những vấn đề trong “Kinh Trung A hàm”. Có thể nói, đây là bản tóm tắt, đã lược bỏ những đoạn trùng lấp, phần còn lại là những vấn đề cốt yếu trong kinh này. Ở đây điều mà chúng ta cần chú ý về những tiêu đề trong tác phẩm này, đó là ý kiến riêng của soạn giả, nhưng nội dung của nó được copy lại từ bản dịch của Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, trên trang Websites: www.quangduc.com, tức là nguyên văn của kinh điển.

Tác phẩm này được ra đời vì nhu cầu một số Tăng, Ni sinh đang theo học Phật học, cũng như một số Phật tử muốn tìm hiểu về kinh tạng Phật giáo Thượng tọa bộ. Tôi mong rằng, vớikinh nghiệm nhỏ này sẽ giúp cho Tăng Ni Sinh, những người nghiên cứu và Phật tử không phải mất nhiều thì giờ tìm kiếm, nhưng nếu như đọc giả cảm thấy hứng thú, muốn tìm hiểu trọn ý nghĩa vẹn của những đoạn trích dẫn này, tốt nhất nên đọc trọn bài kinh, vì ý nghĩa của một đoạn kinh có thể liên quan đến những ý nghĩa khác.

Cách tra cứu và biên soạn của tác phẩm này không phải là cách hay nhất, chỉ là cách làm việc mang tính cá nhân, do vậy nơi đây tôi rất mong nhận sự góp ý của các bậc thiện tri thức, để làm nền tảng cho các  tác phẩm xuất bản sau này. Mọi sự góp ý xin gởi về địa chỉ hanhbinhvn@yahoo.com

 

Kính bút

Thích Hạnh Bình

Mục Lục > Phần 1 > Phần 2 > Phần 3 > Phần 4 > Phần 5

 

© Bản quyền thuộc về tác giả. Mọi hình thức xuất bản dưới dạng văn bản hoặc điện tử mà không có sự đồng ý của tác giả là vi phạm luật bản quyền

 


Xem thêm:

 Kinh Trung A Hàm

 

Trở về

 

TUỆ CHỦNG

© Bản quyền thuộc về trang nhà  www.tuechung.com

Chủ biên: Thích Hạnh Bình

Liên lạc: tuechung@gmail.com