PHẦN 1
Mục lục
0.
Lời tựa
1. Cuộc đời đức
Phật
2. Cuộc sống của đức Phật trước khi xuất gia
3. Đức Phật được mô tả dưới góc độ thần thoại
4. Như Lai sanh ra và lớn lên từ Thế gian nhưng không bị ô nhiễm
5. Ngoại đạo cho rằng Như lại là người có phép huyễn thuật làm mê hoặc thế gian
6. Thế Tôn là người nói với làm đi đôi với nhau
7. Thế tôn vì có 5 pháp khiến cho người khác tôn trọng
8. Những yếu tố khiến vua Ba Tư Nặc cung kính Thế Tôn
9. 5 đặc điểm của Thế Tôn khiến mọi người cung kính cúng dường, (5 điểm đó không
phải là những vấn đề ăn ít hay ăn nhiều, là những điểm có lien quan đến trí
tuệ)
10. Ngoại đạo cho rằng Như Lai là người phá hoại sự sống
11. 32 tướng tốt
12. Một trong hai con đường mà thái tử Tất Đạt Đa phải lựa chọn
13. Ma Ba Tuần yêu cầu đức Phật không nói pháp
14.
Sự kiện Thế Tôn nhập Niết bàn
15. Kinh nghiệm tu tập của đức Thế Tôn
16. Đức Phật không phải là nhà huyễn thuật
17. Mười
hiệu
18. Mục
đích đức Phật ra đời
19. Nội
dung giáo dục của đức Phật
20. Lòng
bao dung của đức Phật
21. Những điều kiện cần thiết cho việc tu tập và hoằng dương Phật pháp
22. Lộ trình tu
tập
23.
Bảy thiện pháp
24. 7 loại phước của thế gian và xuất thế gian
25.
Ngã và vô ngã sở
26. Có Ngã
hay không có ngã
27. Cuộc đời
là vô thường
28. 10
ví dụ về tính vô thường
29.
Chuyện tiền thân
30. Mục đích của việc xuất gia tu học là cầu giải thoát
31. Tôn giả Mãn Từ Tử
32. A nan được chỉ định làm thị giả cho Phật và những vấn đề liên quan đến việc
thị giả
33. Tôn giả Xá Lợi Phất
34. Tôn giả Xá Lợi Phất giải thích câu: Sanh đã tận
35. Tôn giả Xá Lợi Phất đi các nơi để giáo hoá chúng sinh
36. Tỷ kheo vu khống Tôn giả Xá Lợi Phất và lời giải thích của Tôn giả
37. Tôn giả Xá Lợi Phất giảng cho Tôn giả Cấp Cô Độc khi lâm trọng bệnh
38. Tôn giả Xá Lợi Phất dùng Tứ Đế giải thích Ngũ Uẩn (Abhidhamma)
39.
Tôn giả Xá Lợi Phất giải thích Tứ Đế
40. Lợi ích của chánh tư duy và sự nguy hiểm của bất chánh tư duy
41.
7 loại phiền não
42. 14 vấn đề siêu hìnhđức Phật không giải thích
43. Đức Phật giải thích lý do tại sao Ngài không trả lời 14 vấn đề siêu hình
44. Nghiệp
45. Thân không làm ác miệng không nói ác không đồng nghĩa là người thiện
46. Lý do nào trong xã hội có sự khác nhau về giàu nghèo, đẹp xấu
47. Quan điểm khác nhau giữa người trí và kẻ ngu về luật nhân quả
48. 4 hiện tượng khác nhau giữa nhân và quả dẫn đến quan điểm khác nhau giữa
ngoại đạo và đức Phật
49. Sự khác nhau giữa quan điểm nghiệp của Phật giáo và Kỳ Na Giáo
50. Quan điểm của Phật về vấn đề cầu nguyện, ước nguyện
Nội dung
1. Cuộc đời đức Phật
204. ‘Kinh La Ma’
Ta trước kia khi chưa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh
giác cũng suy nghĩ như vầy, ‘Ta thực sự lệ thuộc tật bệnh, không bỏ tìm cầu sự
tật bệnh. Ta thực sự lệ thuộc già, chết, sầu bi ưu não, tạp uế, nhưng không bỏ
tìm cầu cái không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế. Vậy ta có
nên tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn. Tìm cầu cái không già,
không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn chăng?
“Ta vào thời thiếu niên trong
trắng, mái tóc xanh mướt, cho đến thời tráng niên năm hai mươi chín tuổi, bấy
giờ sống cực kỳ hoan lạc, vui đùa, trang sức, du hành. Ta vào lúc ấy mặc dù cha
mẹ khóc lóc, thân thuộc không ai vui, nhưng Ta cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí
tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, để học đạo; thủ hộ thân mạng thanh
tịnh, thủ hộ khẩu và ý mạng thanh tịnh. Ta đã thành tựu giới thân ấy rồi, lại
muốn tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; sự không già, không chết,
không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn, cho nên lại tìm nơi
A-la-la Già-la-ma (Pāli: Ālāra Kālāma), hỏi rằng, ‘Thưa A-la-la, tôi muốn theo pháp của người để
tu học phạm hạnh được chăng?’ A-la-la trả lời rằng, ‘Này Hiền giả, không có gì
là không được. Hiền giả muốn hành thì hành’. Ta lại hỏi, ‘Người làm thế nào để
tự tri, tự giác, tự tác chứng pháp này?’ A-la-la đáp, ‘Ta vượt qua tất cả thức
xứ, đạt được vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ. Do đó, pháp của ta được tự tri, tự
giác, tự tác chứng’. Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Không chỉ riêng A-la-la mới có
niềm tin này. Ta cũng có niềm tin này. Không chỉ riêng A-la-la mới có tinh tấn
này, Ta cũng có sự tinh tấn này. Không chỉ riêng A-la-la mới có tuệ này, Ta cũng
có tuệ này’. A-la-la đối với pháp này đã tự tri, tự giác, tự tác chứng. Ta muốn
chứng pháp này nên sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên tĩnh. Sau
khi tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, không bao lâu Ta chứng pháp ấy. Sau
khi chứng pháp ấy rồi, Ta lại tìm đến chỗ A-la-la
Già-la-ma, hỏi rằng, ‘Thưa A-la-la, phải chăng pháp này được tự tri, tự giác, tự
tác chứng, nghĩa là vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, đạt được vô sở hữu xứ,
thành tựu an trụ?’ A-la-la trả lời Ta rằng, ‘Hiền giả, đó là pháp ta tự tri, tự
giác, tự tác chứng, nghĩa là vượt qua tất cả vô lượng thức xứ, đạt được vô sở
hữu xứ, thành tựu an trụ’. A-la-la lại nói với Ta rằng, ‘Hiền giả, ấy là cũng
như sự tác chứng của ta đối với pháp này, Hiền giả cũng vậy. Cũng như sự tác
chứng của Hiền giả đối với pháp này, ta cũng vậy. Hiền giả, người hãy đến đây,
cùng ta lãnh đạo đồ chúng này’. Đó là A-la-la đối xử với Ta với địa vị Tôn sư,
coi Ta ngang hàng, tối thượng cung kính, tối thượng cúng dường, tối thượng hoan
hỷ.
“Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Pháp này không đưa đến trí;
pháp này không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy Ta hãy xả bỏ pháp này,
để cầu thêm nữa, sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm cầu sự không già,
không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn’. Ta bèn
bỏ pháp này đi tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn.
“Rồi Ta đi đến chỗ Uất-đà-la La-ma Tử (Pāli:
Udduka Rāmaputta), hỏi rằng, ‘Thưa Uất-đà-la, tôi muốn
ở trong pháp của người mà học hỏi, có thể được chăng?’ Uất-đà-la La-ma Tử trả
lời Ta rằng, ‘Hiền giả, không có gì là không được. Người muốn học thì học’. Ta
lại hỏi, ‘Thưa Uất-đà-la, cha ngài là La-ma (Rāma),
người tự tri, tự giác, tự tác chứng pháp gì?’ Uất-đà-la La-ma Tử đáp, ‘Hiền giả,
ta vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, đạt được phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, thành
tựu an trụ. Hiền giả, pháp mà cha ta La-ma tự tri, tự giác, tự tác chứng, là
pháp này’. Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Không chỉ riêng La-ma mới có niềm tin này,
Ta cũng có niềm tin này. Không chỉ riêng La-ma mới có sự tinh tấn này, Ta cũng
có sự tinh tấn này. Không chỉ riêng La-ma mới có tuệ này, Ta cũng có tuệ này.
La-ma đã tự tri, tự giác, tự tác chứng pháp này, tại sao ta lại không tự tri, tự
giác, tự tác chứng pháp này?’ Vì Ta muốn chứng pháp này, cho nên sống cô độc tại
một nơi xa vắng, không nhàn, yên tĩnh, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần.
Sau khi Ta sống cô độc, viễn ly, tại một nơi trống vắng, yên tĩnh, không bao lâu
chứng được pháp ấy. Khi chứng pháp ấy rồi, Ta lại đến Uất-đà-la La-ma Tử hỏi
rằng, ‘Thưa Uất-đà-la La-ma Tử, cha ngài là La-ma, phải chăng pháp này được tự
tri, tự giác, tự tác chứng, nghĩa là vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, đạt được phi
hữu tưởng, phi vô tưởng xứ, thành tựu an trụ?’ Uất-đà-la La-ma Tử trả lời Ta
rằng, ‘Hiền giả, cha ta là La-ma, đây là pháp được tự tri, tự giác, tự tác
chứng, nghĩa là vượt qua tất cả vô sở hữu xứ, đạt được phi hữu tưởng, phi vô
tưởng xứ, thành tựu an trụ’. Uất-đà-la lại nói với Ta rằng, ‘Cũng như cha ta tác
chứng pháp này, Hiền giả cũng vậy. Cũng như Hiền giả tác chứng pháp này, cha ta
cũng vậy. Hiền giả hãy đến đây cùng ta lãnh đạo đồ chúng này’. Uất-đà-la đối xử
với Ta ngang địa vị Tôn sư, coi Ta cũng như bậc Tôn sư, tối thượng cung kính,
tối thượng cúng dường, tối thượng hoan hỷ. Ta lại suy nghĩ như vầy, ‘Pháp này
không đưa đến trí, không đưa đến giác, không đưa đến Niết-bàn. Vậy Ta hãy xả bỏ
pháp này để đi tìm cầu thêm nữa, sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn; tìm
cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn
Niết-bàn’. Ta liền xả bỏ pháp ấy để đi tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn
Niết-bàn; tìm cầu sự không già, không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế,
vô thượng an ổn Niết-bàn.
“Rồi Ta đi về phía nam núi Tượng đỉnh (Pāli:
Gayāsisa), đến tại Uất-bệ-la (Pāli: Uruvelā),
một ngôi làng của Phạm chí tên gọi là Tư na (Pāli: Senā),
đây là một khoảng đất xinh xắn, khả ái, núi rừng sầm uất, sông Ni-liên-thuyền (Pāli:
Nerañjarā)với dòng nước trong xanh chảy lên bờ. Ta
thấy khoảnh đất ấy bèn nghĩ rằng, ‘Nếu một thiện nam tử muốn học đạo, nên ở nơi
này mà học, Ta cũng học đạo; vậy Ta hãy ở nơi này mà học. Rồi Ta ôm cỏ đến cây
giác thọ (cây bồ-đề). Đến nơi, Ta rải cỏ xuống,
trải ni-sư-đàn lên và ngồi kiết già, kỳ hạn sẽ không rời khỏi chỗ ngồi cho đến
khi nào chứng đắc Lậu tận. Và Ta không rời khỏi chỗ ngồi cho đến khi chứng đắc
Lậu tận.
“Ta tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn,
liền đạt được sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn. Tìm cầu sự không già,
không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn. Liền
đạt được sự không già không chết, không ưu bi sầu não, không tạp uế, vô thượng
an ổn Niết-bàn, sanh tri, sanh kiến, định đạo phẩm pháp, ‘Sự sanh đã dứt, phạm
hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, biết như thật không còn tái sanh nữa’.
“Khi Ta vừa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác,
liền nghĩ như vầy, ‘Ta sẽ thuyết pháp cho ai trước nhất?’ Rồi Ta lại nghĩ rằng,
‘Ta có nên đi đến thuyết pháp cho A-la-la Già-la-ma trước chăng?’
“Lúc bấy giờ có Thiên thần trụ trong hư không nói với
Ta rằng: “Đại Tiên nhân, xin biết cho, A-la-la Già-la-ma vừa mạng chung đến nay
đã được bảy ngày’. Ta cũng tự biết A-la-la Già-la-ma đã mạng chung được bảy
ngày. Ta lại nghĩ như vầy, ‘A-la-la Già-la-ma, thiệt thòi thay cho người ấy,
không nghe được pháp này. Nếu được nghe pháp này, người ấy sẽ nhanh chóng biết
rõ pháp tùy pháp.
“Khi Ta vừa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác,
liền nghĩ như vầy, ‘Ta sẽ thuyết pháp cho Uất-đà-la La-ma Tử trước nhất chăng?”
Thiên thần lại trụ trong hư không nói với Ta rằng, ‘Đại Tiên nhân, xin biết cho,
Uất-đà-la La-ma Tử mạng chung đến nay đã hai tuần thất’. Ta cũng tự biết Uất đầu
la La-ma Tử mạng chung đã hai tuần thất. Ta lại nghĩ như vầy, ‘Uất-đà-la La-ma
Tử thiệt thòi thay cho người ấy, không nghe được pháp này. Nếu nghe được pháp
này, người ấy sẽ nhanh chóng biết rõ pháp tùy pháp’.
“Khi Ta vừa chứng Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, Ta
liền suy nghĩ như vầy, ‘Ta sẽ thuyết pháp cho ai trước nhất?’ Rồi Ta lại nghĩ
rằng, ‘Xưa kia, năm Tỳ-kheo theo hầu hạ Ta, giúp Ta nhiều điều hữu ích. Khi Ta
tu hành khổ hạnh, năm Tỳ-kheo ấy đã thừa sự Ta, nay Ta có nên thuyết pháp cho
năm Tỳ-kheo trước kia chăng?’ Rồi Ta lại nghĩ rằng, ‘Năm Tỳ-kheo thuở xưa ấy,
bây giờ đang ở đâu?’ Bằng thiên nhãn thanh tịnh vượt hẳn người thường, Ta thấy
năm Tỳ-kheo đang ở tại Ba-la-nại (Pāli: Bārāṇasi
Isipatanaṃ Migadāyo),
Tiên nhân trú xứ, trong vườn Lộc giả.
“Ta tùy thuận trụ dưới gốc cây Giác thọ. Sau đó Ta thu
vén y, ôm bát đi về Ba-la-nại, đến đô ấp Gia-thi . Bấy giờ Dị học Ưu-đà (Pāli:
Upaka), từ xa trông thấy Ta đi đến, bèn nói với Ta
rằng, ‘Hiền giả Cù-đàm, các căn thanh tịnh, hình sắc thù diệu, khuôn mặt ngời
sáng. Hiền giả Cù-đàm, ai là Tôn sư? Theo ai học đạo? Tin tưởng pháp của ai?’
Lúc bấy giờ Ta liền nói bài kệ để trả lời Ưu-đà rằng:
Ta
tối thượng, tối thắng;
Nhiễm
trước pháp đã trừ;
Giải
thoát, ái diệt tận;
Tự
giác, ai tôn sư?
Bậc
Vô đẳng, Đại hùng,
Tự
giác, Vô thượng giác,
Như
Lai, Thầy thiên, nhơn,
Biến
tri, thành tựu lực.
“Ưu-đà hỏi rằng: “–Hiền giả Cù-đàm tự cho là tối thắng chăng?”
“Ta
lại nói bài kệ trả lời rằng:
Đấng
Tối thắng như vậy
Các
lậu đã tận trừ.
Ta
sát hại ác pháp,
Nên
tối thắng là Ta.
“Ưu-đà lại hỏi Ta rằng: “–Hiền giả Cù-đàm, bấy giờ muốn đi về đâu?”
“Bấy
giờ Ta nói bài kệ rằng:
Ta
đến Ba-la-nại,
Dóng
trống diệu cam lồ,
Chuyển pháp luân vô thượng
Chưa
ai chuyển trong đời.
“Ưu-đà lại nói với Ta rằng: “Hiền giả Cù-đàm, hoặc có thể là như vậy.”
“Rồi
vị ấy bước sang con đường tắt mà đi trở lui.
“Ta một mình đi đến Tiên nhân trụ xứ, trong vườn Lộc
dã. Bấy giờ năm Tỳ-kheo từ xa trông thấy Ta đi đến, ai cũng lập giao ước với
nhau rằng, ‘Chư Hiền, nên biết đó là Sa-môn Cù-đàm đang đi đến. Người ấy đa dục,
đa cầu, ăn với loại ẩm thực thù diệu, bằng cơm gạo trắng ngon lành, cùng với
bột, tô, mật, và bôi xoa thân thể bằng dầu mè nay lại đến đây. Các người cứ
ngồi. Chớ nên đứng dậy đón tiếp, cũng đừng làm lễ. Dành sẵn cho một chỗ đó,
nhưng đừng mời ngồi, hãy nói rằng ‘Nếu bạn muốn ngồi, xin cứ tùy ý’. Rồi Ta đi
đến chỗ năm Tỳ-kheo. Bấy giờ năm Tỳ-kheo không kham nổi uy đức tối thắng thù
diệu của Ta, tức thì rời chỗ ngồi đứng dậy, người thì ôm y bát của Ta, người thì
trải chỗ ngồi, người thì lấy nước cho Ta rửa chân. Ta nghĩ rằng, ‘Những người
ngu si này sao lại không bền chí, đã tự mình thiết lập điều ước hẹn, rồi lại làm
trái điều giao hẹn’. Ta biết như vậy rồi bèn ngồi trên chỗ ngồi mà năm Tỳ-kheo
đã dọn sẵn. Khi ấy năm Tỳ-kheo gọi thẳng tên họ Ta và xưng hô với Ta là “Bạn”.
“Ta nói với họ rằng, ‘Ta là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, các người đừng gọi thẳng tên họ Ta, cũng đừng gọi Ta là ‘Bạn’. Vì
sao vậy? Ta vì tìm cầu sự không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, và đạt được sự
không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn. Ta tìm cầu sự không già, không chết, không
sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn, và đạt được sự không già,
không chết, không sầu bi ưu não, không tạp uế, vô thượng an ổn Niết-bàn. Đã sanh
tri, sanh kiến, định đạo phẩm pháp, ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Họ nói với Ta rằng: “–Này bạn Cù-đàm,
trước kia bạn hành như vậy, đạo tích như vậy, khổ hạnh như vậy mà còn chưa chứng
được pháp thượng nhân, gần kề với Thánh tri, Thánh kiến, huống là ngày hôm nay
đa dục, đa cầu, ăn với thực phẩm thù diệu với gạo trắng ngon lành, cùng với bột,
tô, mật, bôi xoa thân thể bằng dầu mè chăng?
“Ta lại nói rằng: “Này năm Tỳ-kheo, các ngươi trước
kia có bao giờ thấy Ta như vậy, với các căn thanh tịnh, rạng rỡ sáng ngời chăng?
“Bấy giờ năm Tỳ-kheo lại trả lời với Ta rằng: “Trước
kia chúng tôi chưa từng thấy bạn với các căn thanh tịnh, rạng rỡ sáng ngời. Này
bạn Cù-đàm, nay bạn với các căn thanh tịnh, hình sắc thù diệu khuôn mặt sáng
ngời.
“Ta lúc ấy nói với họ rằng:
“Này năm Tỳ-kheo, có hai lối sống cực đoan mà
những người học đạo không nên học. Một là đắm trước dục lạc, nghiệp hèn hạ, là
lối sống của phàm phu. Hai là tự gây phiền, tự gây khổ, không phải là pháp Hiền
Thánh, không tương ưng với cứu cánh. Này năm Tỳ-kheo, xả bỏ hai cực đoan ấy, có
con đường giữa, thành minh, thành trí, thành tựu định, đạt đến tự tại, đưa đến
trí, đưa đến giác, dẫn đến Niết-bàn. Đó là tám con đường chân chánh, từ chánh
kiến cho đến chánh định là tám.
….đây là Khổ, biết như thật đây là Khổ tập, biết như
thật đây là Khổ diệt, đây là Khổ diệt đạo. Biết như thật đây là lậu, đây là lậu
tập, đây là lậu diệt, đây là lậu diệt đạo. Vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm
giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi biết
mình đã giải thoát, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều
cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Vị ấy bây giờ tự tại đi, tự tại
đứng, tự tại ngồi, tự tại nằm. Vì sao vậy? Vị ấy đã tự mình thấy rõ vô lượng
pháp ác bất thiện đã diệt tận. Cho nên, vị ấy tự tại đi, tự tại đứng, tự tại
ngồi, tự tại nằm….
2.
Cuộc sống của đức Phật trước khi xuất
gia
117. ‘Kinh Nhu Nhuyến’
Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: “Chính Ta ngày
trước ra đi xuất gia học đạo là ra đi từ chỗ ưu du, từ chỗ thong dong nhàn nhã,
từ đời sống cực kỳ êm dịu. Khi Ta còn ở nhà, phụ vương Duyệt-đầu-đàn tạo cho Ta
đủ thứ cung điện; cung điện để ở vào mùa Xuân, cung điện để ở vào mùa Hạ, cung
điện để ở vào mùa Đông.
“Bởi Ta thích du ngoạn nên cách điện không xa, người
lại tạo không biết bao nhiêu là ao sen: ao hoa sen xanh, ao hoa sen hồng, ao hoa
sen đỏ, ao hoa sen trắng. Trong các ao đó trồng đủ các loại hoa dưới nước: hoa
sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ và hoa sen trắng. Nước luôn luôn đầy, hoa
luôn luôn trổ, mà những người sai dịch chăm sóc không thông suốt được hết.
“Bởi Ta thích du ngoạn nên trên bờ ao trồng các loại
hoa: hoa Tu-ma-na, hoa Bà-sư, hoa Chiêm-bặc, hoa Tu-kiền-đề, hoa Ma-đầu-kiền-đề, hoa
A-đề-mưu-đa, hoa Ba-la-đầu.
“Bởi Ta thích du ngoạn nên người sai bốn người tắm rửa
cho Ta. Tắm rửa cho Ta rồi lại xoa hương chiên-đàn đỏ vào khắp thân Ta. Xoa
hương vào thân Ta rồi lại khoác vào mình Ta chiếc áo lụa thật mới. Trên, dưới,
trong, ngoài đều mới mẻ. Suốt ngày đêm luôn luôn cầm lọng che cho Ta, không để
cho Thái tử đêm phải nhiễm sương, ngày bị nắng háp.
“Như nhà dân thường được ăn đại mạch thô, cơm gạo tẻ,
cháo đậu, gừng, cho đó là đồ ăn bậc nhất, nhưng người sai dịch thấp nhất của phụ
vương Duyệt-đầu-đàn của Ta lại cho như vậy là rất dở, chỉ ăn nếp trắng và hào
soạn mới cho là đồ ăn bậc nhất.
“Lại nữa, nếu có cầm thú nơi đồng ruộng, loại cầm thú
ngon nhất như Đề-đế-la-hòa-tra, Kiếp-tân-xà-la, Hề-mễ-hà, Lê-nê-xa, Thi-la-mễ.
Các loại cầm thú nơi đồng ruộng, loại cầm thú ngon nhất như vậy Ta thường được
ăn.
“Ta nhớ khi xưa, lúc còn ở với phụ vương
Duyệt-đầu-đàn, suốt bốn tháng hạ, mỗi khi lên trên chánh điện đều không có người
nam; chỉ toàn là kỹ nữ để cùng vui chơi, không hề trở xuống.
“Rồi khi Ta muốn đến viên quán thì liền có ba mươi
danh kỵ thượng thặng được tuyển chọn với những hàng đại thuẫn đi dẫn đường hộ
tống trước sau, không kể những tiểu tiết khác.
“Ta có như ý túc đó và sự êm dịu cực kỳ này.
“Ta còn nhớ khi xưa, lúc Ta thăm ruộng, người làm
ruộng nghỉ ngơi trên đám ruộng, Ta đi đến dưới gốc cây Diêm-phù ngồi kiết già,
ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác, có quán, hỷ lạc do viễn ly sanh, chứng
đắc được Sơ thiền, thành tựu và an trụ. Ta nghĩ rằng: ‘Phàm phu ngu si không đa
văn, tự có sẵn tật bệnh, không thoát khỏi tật bệnh, nhưng thấy người tật bệnh
thì ghê tởm, khinh bỉ, không yêu, không thích, mà không tự quán sát mình’.
“Rồi Ta lại nghĩ: ‘Ta tự có sẵn tật bệnh, không thoát
khỏi tật bệnh. Nếu Ta thấy người tật bệnh mà ghê tởm, khinh bỉ, không yêu, không
thích, Ta không nên như vậy, vì Ta cũng có trường hợp này’. Quán sát như vậy rồi
thì tâm cống cao phát khởi do không có tật bệnh liền tự tiêu diệt.
“Ta lại nghĩ rằng: ‘Phàm phu ngu si không đa văn, tự
có sẵn sự già, không thoát khỏi sự già, nhưng thấy người già cả thì ghê tởm,
khinh bỉ, không yêu, không thích, mà không tự quán sát mình’.
“Rồi Ta lại nghĩ: ‘Ta tự có sẵn sự
già, không thoát khỏi sự già. Nếu Ta thấy người già cả mà ghê tởm, khinh bỉ,
không yêu, không thích, Ta không nên như vậy, vì Ta cũng có trường hợp này’.
Quán sát như vậy rồi thì tâm cống cao phát khởi do chưa đến tuổi già liền tự
tiêu diệt.
3.
Đức Phật được mô tả dưới góc độ thần
thoại
32.
‘Kinh Vị Tằng Hữu Pháp’
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn