PHẦN 2
51. Nghiệp không thể cầu nguyện van xin
52. Làm ác đọa địa ngục làm thiện sanh thiên, không cần cầu nguyện
53. Tu là
sự quán sát 3 nghiệp
54. Đức Phật không chấp nhận thuyết định mệnh
55. Sự nguy hiểm của người không biết tàm quí
56.
Tỷ kheo ác hạnh
57. Tư cách
của vị Tỷ kheo
58. Những việc cần làm gấp của người xuất gia
59. Thế nào là Tỷ kheo bị suy thối hay tăng trưởng
60.
Không nên vì người khác làm ác
61. 4
Vô Lượng Tâm
62. Thế nào gọi là trí tuệ và trí tuệ có chức năng gì?
63. Sự dị biệt giữa bất thiện và căn bản bất thiện
64. Sự dị biệt giữa thiện và căn bản thiện
65.
Người bất thiện
66. Hữu lậu
67. Định
nghĩa các từ Phật học
68. Ai thấy Duyên khởi người ấy tức thấy pháp
69. Con người nhận thức thế giới ngoại bằng biểu tượng
70. Xuất gia với lý do không chơn chính
71. Mục đích xuất gia
72. Nếu cha mẹ không đồng ý thì không được xuất gia
73. Ý chí xuất gia dũng mãnh của Lại Tra Hoà La
74. Tỷ kheo cần phải biết hổ thẹn khi chưa làm trọn bổn phận
75. Tôn giả Bạc Câu la và đời sống tri túc của Ngài
76. Điểm đặc
thù của biển
77. 8 đặc
điểm của Phật pháp
78.
Nguyên nhân xảy ra động đất
79. Đức Phật thuyết giảng cho Bà La Môn, Sát Đế Lợi.., là phương tiện
80. Tỷ kheo xúc nhiễu Thế Tôn và Đại chúng
81. Bốn đôi 8 vị
82. Tứ Nhiếp Pháp
83. Mục
đích của việc giữ giới
84. Tại sao giới càng nhiều thì người chứng quả càng ít
85. Liên
quan đến giới Tỷ kheo
86. Cung kính, oai nghi
87. Tàm
quí
88. Dù xuất gia hay tại gia đức Phật chỉ khen ngợi người có chánh hạnh
89. Nhân quả không phân biệt là người tại gia hay xuất gia
90. Qúa trình hình thành phiền não và đoạn trừ phiền não
91. Sự lợi ích của việc gần gũi người thiện tri thức
92. Lộ
trình đi đến Niết Bàn
93. Đều là đệ tử Thế Tôn, tại sao có người chứng và có người không chứng
94. 5 pháp khiến cho tâm Tỷ kheo được an tịnh
95. 7 báu của chuyển luân thánh vương
96. 7 Giác Chi
97. 4 Châu
98. 4 châu là 4 phương của nước Ấn Độ
99.
Tất cả mọi pháp đều biến hoại
100. Duyên khởi
Nội dung
51.
Nghiệp không thể cầu nguyện van xin
17.
‘Kinh Già Di Ni’
Thế Tôn bảo rằng: “Này Già-di-ni, nay ta hỏi
ông, tùy theo sự hiểu biết mà trả lời. Này Già-di-ni, ý ông nghĩ thế nào? Nếu ở
trong thôn ấp, hoặc có kẻ nam, người nữ biếng nhác, không tinh tấn, lại hành ác
pháp, thành tựu mười loại nghiệp đạo bất thiện, là sát sanh, lấy của không cho,
tà dâm, nói dối, cho đến tà kiến. Người ấy khi mạng chung, nếu có số đông người
đến, thảy đều chắp tay hướng về người đó kêu gọi, van lơn, nói như thế này: ‘Các
người, nam hoặc nữ, biếng nhác, không siêng năng, lại hành ác pháp, thành tựu
mười loại nghiệp đạo bất thiện là sát sanh, lấy của không cho, tà dâm nói dối,
cho đến tà kiến. Các người nhân việc này, duyên việc này, khi thân hoại mạng
chung chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời’. Như vậy, này Già-di-ni,
những người nam hay nữ biếng nhác kia, không siêng năng, lại hành ác pháp, thành
tựu mười loại nghiệp đạo bất thiện là sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói
dối, cho đến tà kiến; có thể nào vì được số đông người đều đến chắp tay hướng về
chúng mà kêu gọi, van lơn, nhân việc ấy, duyên việc ấy mà lúc thân hoại mạng
chung lại được đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời không?”
Già-di-ni thưa rằng: “Không thể được, bạch Thế Tôn”.
Phật khen rằng: “Lành thay, Già-di-ni, vì sao thế?
Những người nam hay nữ kia, biếng nhác, không siêng năng, lại thực hành ác pháp,
thành tựu mười loại nghiệp đạo bất thiện là sát sanh, lấy của không cho, tà dâm,
nói dối, cho đến tà kiến. Nếu được số đông người đến chắp tay hướng về chúng, mà
kêu gọi, van lơn, nhân việc ấy, duyên việc ấy khi thân hoại mạng chung lại được
đi đến thiện xứ sanh lên cõi trời. Việc đó không thể có.
“Này Già-di-ni, cũng như cách thôn không bao xa, có
vực nước sâu, nơi đó có một người ôm tảng đá lớn và nặng ném vào trong nước. Nếu
có số đông người đến đều chắp tay hướng về tảng đá mà kêu gọi van lơn, nói như
thế này: ‘Mong tảng đá nổi lên, mong tảng đá nổi lên’. Này Già-di-ni, ông nghĩ
thế nào? Tảng đá lớn nặng ấy có thể nào vì được số đông người đến đều chắp tay
hướng về nó và kêu gọi van lơn, nhân việc đó, duyên việc đó mà sẽ nổi lên
không?”
Già-di-ni trả lời rằng: “Không thể được, bạch Thế
Tôn!”
“Cũng vậy, này Già-di-ni, những người nam hay nữ kia
biếng nhác, không tinh tấn, lại thực hành ác pháp, thành tựu mười loại nghiệp
đạo bất thiện là sát sanh, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, cho đến tà kiến,
nếu được số đông người đều đến chắp tay hướng về chúng mà kêu gọi, van lơn, nhân
việc đó, duyên việc đó mà lúc thân hoại mạng chung, được đi đến thiện xứ, sanh
lên cõi trời; điều đó không thể có được.
52. Làm ác đọa địa ngục làm thiện sanh thiên không cần cầu nguyện
93. ‘Kinh Thủu Tịnh Phạm Chí’
Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế làm ô uế tâm thì chắc
chắn đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục.
“Những gì là hai mươi mốt thứ ô uế? Đó là, tâm uế do
tà kiến, tâm uế do phi pháp dục, tâm uế do ác tham, tâm uế do tà pháp, tâm uế do
tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy miên, tâm uế do trạo cử hối quá, tâm uế do
nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm uế do phú tàng, tâm uế do xan tham, tâm uế
do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế do dua siểm, tâm uế do vô tàm, tâm uế do vô
quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại mạn, tâm uế do ngạo mạn, tâm uế do phóng dật
“Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này làm ô uế tâm thì
chắc chắn đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục.
“Ví như cái áo bị cáu bẩn đem cho nhà thợ nhuộm. Người
thợ nhuộm nhận áo đó, hoặc dùng tro sạch, hoặc dùng bột giặt hay dùng nước chắt
chà xát thật kỹ cho sạch cái áo dơ bẩn đó. Dù người thợ giặt dùng tro sạch, hoặc
dùng bột giặt hay dùng nước chắt chà xát thật kỹ cho sạch, nhưng cái áo dơ bẩn
ấy vẫn có màu dơ bẩn. Cũng như vậy, nếu có hai mươi mốt thứ ô uế làm ô uế tâm
thì chắc chắn đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Những gì là hai mươi mốt thứ ô
uế? Đó là, tâm uế do tà kiến, tâm uế do phi pháp dục, tâm uế do ác tham, tâm uế
do tà pháp, tâm uế do tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy miên, tâm uế do trạo
cử hối quá, tâm uế do nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm uế do phú tàng, tâm uế
do xan tham, tâm uế do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế do dua siểm, tâm uế do
vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại mạn, tâm uế do ngạo mạn,
tâm uế do phóng dật.
“Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này mà không làm ô uế
tâm thì chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời. Những gì là hai mươi mốt
thứ ô uế? Đó là, tâm uế do tà kiến, tâm uế do phi pháp dục, tâm uế do ác tham,
tâm uế do tà pháp, tâm uế do tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy miên, tâm uế
do trạo cử hối quá, tâm uế do nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm uế do phú
tàng, tâm uế do xan tham, tâm uế do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế do dua
siểm, tâm uế do vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại mạn, tâm
uế do ngạo mạn, tâm uế do phóng dật. Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này mà không
làm ô uế tâm thì chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời.
“Ví như cái áo trắng sạch của loại vải dệt ở xứ
Ba-la-nại, đem cho nhà thợ nhuộm. Người thợ nhuộm nhận áo đó, dùng hoặc tro
sạch, hoặc dùng bột giặt hay dùng nước chắt chà xát thật kỹ cho thêm sạch cái áo
trắng sạch bằng loại vải Ba-la-nại này. Người thợ giặt Ba-la-nại chà xát thật kỹ
cho thêm sạch, nhưng cái áo trắng sạch loại vải Ba-la-nại ấy vốn đã sạch lại
càng trắng sạch thêm. Cũng vậy, nếu có hai mươi mốt thứ ô uế mà không làm ô uế
tâm thì chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời. Những gì là hai mươi mốt
thứ ô uế? Đó là, tâm uế do tà kiến, tâm uế do phi pháp dục, tâm uế do ác tham,
tâm uế do tà pháp, tâm uế do tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy miên, tâm uế
do trạo cử hối quá, tâm uế do nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm uế do phú
tàng, tâm uế do xan tham, tâm uế do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế do dua
siểm, tâm uế do vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại mạn, tâm
uế do ngạo mạn, tâm uế do phóng dật. Nếu có hai mươi mốt thứ ô uế này mà không
làm ô uế tâm thì chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời.
“Nếu ai biết được tà kiến là ô uế của tâm, sau khi
biết liền đoạn trừ. Cũng như vậy, nếu ai biết được tâm uế do phi pháp dục, tâm
uế do ác tham, tâm uế do tà pháp, tâm uế do tham, tâm uế do nhuế, tâm uế do thụy
miên, tâm uế do trạo cử hối quá, tâm uế do nghi hoặc, tâm uế do sân triền, tâm
uế do phú tàng, tâm uế do xan tham, tâm uế do tật đố, tâm uế do khi trá, tâm uế
do dua siểm, tâm uế do vô tàm, tâm uế do vô quý, tâm uế do mạn, tâm uế do đại
mạn, tâm uế do ngạo mạn; nếu biết phóng dật là tâm uế, sau khi biết liền đoạn
trừ.
“Tâm của vị ấy cùng đi đôi với từ, biến mãn một
phương, thành tựu an trụ. Như vậy, cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, tứ
duy, trên dưới, trùm khắp tất cả cùng đi đôi với lòng từ, không kết, không oán,
không giận, không tranh, rộng rãi bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả
thế gian, thành tựu an trụ.
“Này Phạm chí, đó là phương pháp gột rửa nội tâm chứ
không phải gột rửa ngoại thân”.
53.
Tu là quán sát 3 nghiệp
14.
‘Kinh La Vân’
“Cũng vậy, này La-vân, nếu ngươi sắp hành động với
thân nghiệp thì hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta sắp làm thân nghiệp; thân
nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình mà làm hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu
khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Ta sắp làm thân nghiệp, vì mình mà làm hay
vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện, nó sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ
lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi nên bỏ thân nghiệp bất thiện sắp được làm ấy đi.
Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta sắp làm thân nghiệp, vì
mình mà làm hay vì người khác. Đó là thân nghiệp thiện, nó sẽ đưa đến lạc quả và
sẽ thọ lấy lạc báo’. Này La-vân, ngươi hãy thực hiện thân nghiệp sẽ làm ấy.
“Này La-vân, ngươi hiện đang hành động với thân
nghiệp, hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp; thân nghiệp
ấy tịnh hay bất tịnh? Vì mình làm hay vì người khác?’ Này La-vân, khi quán sát
như vậy mà biết rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp; thân nghiệp này tịnh, vì mình
làm hay vì người khác. Đó là thân nghiệp bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và thọ lấy
khổ báo’. Này La-vân, ngươi nên bỏ thân nghiệp đang làm ấy đi. Này La-vân, nếu
khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Ta đang làm thân nghiệp; thân nghiệp ấy bất
tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ
lấy lạc báo’. Này La-vân, ngươi hãy nên thực hiện thân nghiệp đang làm ấy.
“Này La-vân, nếu ngươi đã hành động với thân nghiệp,
hãy quán sát thân nghiệp ấy rằng: ‘Ta đã làm thân nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá
khứ, đã diệt tận, đã biến dịch. Nó là tịnh hay bất tịnh? Vì mình hay vì người
khác?’ Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy mà biết rằng: ‘Ta đã làm thân
nghiệp; thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch, thân nghiệp ấy tịnh hay
bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa đến khổ
quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi hãy đến nơi người phạm hạnh,
thiện tri thức, chí tâm phát lộ thân nghiệp đã tạo ra, xin ăn năn lỗi lầm, cẩn
thận không giấu giếm, rồi phải khéo léo giữ gìn.
“Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà rằng: ‘Ta đã
làm thân nghiệp. Thân nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch, thân nghiệp ấy
tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nghiệp ấy thiện, sẽ đưa đến
lạc quả và thọ lấy lạc báo’. Này La-vân, ngươi nên ngày đêm vui mừng, an trụ
chánh niệm, chánh trí.
“Với khẩu nghiệp cũng lại như vậy.
“Này La-vân, nếu nhân việc làm trong quá khứ nên đã
sanh ý nghiệp, hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc làm trong quá khứ
đã sanh ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, là vì mình làm hay vì người
khác?’ Này La-vân, nếu khi quán như vậy, mà biết nhân việc làm trong quá khứ mà
sanh ra ý nghiệp; ý nghiệp đã quá khứ, diệt tận, biến dịch. Ý nghiệp ấy tịnh hay
bất tịnh, tự mình làm hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến
khổ quả và phải thọ lấy khổ báo. Này La-vân, ngươi nên bỏ ý nghiệp trong quá khứ
ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán như vậy, mà rằng nhân việc làm trong quá khứ mà
đã sanh ra ý nghiệp; ý nghiệp ấy đã quá khứ, diệt tận, biến dịch; ý nghiệp ấy
tịnh hay bất tịnh, vì mình hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa
đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Này La-vân, ngươi đến thọ nhận ý nghiệp quá khứ
ấy.
“Này La-vân, nhân việc làm trong vị lai nên sẽ sanh
khởi ý nghiệp, hãy quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc làm trong vị lai sẽ
sanh ý nghiệp; ý nghiệp ấy là tịnh hay bất tịnh, tự mình làm hay vì người khác?’
Này La-vân, nếu khi quán như vậy, mà biết rằng ‘Nhân việc làm trong vị lai mà sẽ
sinh ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu
ý nghiệp ấy là bất thiện sẽ đưa đến khổ quả và phải thọ lấy khổ báo’. Này
La-vân, ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong vị lai đó đi. Này La-vân, nếu khi quán
sát như vậy, liền biết rằng: ‘Nhân việc làm trong vị lai mà sanh ý nghiệp; ý
nghiệp đó tịnh hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là
thiện, sẽ đưa đến lạc quả và thọ lấy lạc báo. Này La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý
nghiệp trong vị lai ấy.
“Này La-vân, nhân việc làm trong hiện tại nên đang
sanh khởi ý nghiệp, hãy nên quán sát ý nghiệp ấy rằng: ‘Nếu nhân việc đang làm
trong hiện tại nên sanh khởi ý nghiệp, ý nghiệp ấy tịnh hay bất tịnh, vì mình
làm hay vì người khác?’ Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng:
‘Nhân việc đang làm trong hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh
hay bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu nghiệp ấy là bất thiện, sẽ đưa
đến khổ quả và sẽ thọ lấy khổ báo’. Này La-vân, ngươi nên xả bỏ ý nghiệp trong
hiện tại ấy đi. Này La-vân, nếu khi quán sát như vậy, mà biết rằng: ‘Nhân có
việc đang làm trong hiện tại nên đang sanh khởi ý nghiệp; ý nghiệp ấy tịnh hay
bất tịnh, vì mình làm hay vì người khác. Nếu ý nghiệp ấy là thiện sẽ đưa đến lạc
quả và thọ lấy lạc báo’. Này La-vân, ngươi nên nhận lãnh ý nghiệp hiện tại ấy.
54.
Đức Phật không chấp nhận thuyết định
mệnh
13.
‘Kinh Độ’
“Ở trong đây, nếu có Sa-môn, Phạm chí nào thấy như
vầy, nói như vầy: ‘Tất cả hành vi của con người đều nhân túc mạng định đoạt’, Ta
liền đến nơi người kia; đến rồi liền hỏi: ‘Này Hiền giả, có thật Hiền giả thấy
như vầy, nói như vầy: Tất cả hành vi của con người đều nhân túc mạng định đoạt
chăng? Người kia trả lời rằng: ‘Thật vậy’. Ta lại nói với người kia rằng: ‘Nếu
quả thật như vậy, các Hiền giả đều là những kẻ sát sanh cả. Vì sao thế? Bởi vì
tất cả đều nhân túc mạng định đoạt sẵn. Cũng vậy, chư Hiền là những kẻ trộm cắp,
tà dâm, nói láo cho đến tà kiến. Tại sao thế? Bởi vì tất cả đều nhân túc mạng
định đoạt sẵn. Này chư Hiền, đối với kiến chấp rằng: Tất cả đều nhân túc mạng
định đoạt sẵn, mà cho là như thật, thì ở bên trong, nhân bên trong, những điều
nên hay không nên làm, hoàn toàn không có ý dục, không có phương tiện].
Này chư Hiền, nếu đối với điều nên làm và không nên làm mà không biết đúng như
thật thì sẽ mất chánh niệm, không có chánh trí],
thì không có cách nào giáo hóa đúng theo pháp của Sa-môn được’. Nói như vậy mới
có thể dùng lý để khuất phục các Sa-môn, Phạm chí kia.
55.
Sự nguy hiểm của người không biết tàm
quí
14.
‘Kinh La Vân’
Phật bảo: “Ta nói đạo của người kia cũng ít như
vậy, nghĩa là đã biết rồi còn nói dối mà không xấu hổ, không ăn năn, không tàm
không quý. Này La-vân, người kia cũng không có điều ác nào là không làm. Do đó,
này La-vân nên học như thế này, không đùa giỡn và nói dối”……
“Này
La-vân, cũng như nhà vua có thớt voi lớn, khi xông vào trận chiến đấu thì dùng
chân trước, chân sau, đuôi, bộ chân, xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà, tất
cả đều dùng, chỉ giữ gìn chiếc vòi. Tượng sư thấy vậy, rồi suy nghĩ như thế này:
‘Thớt voi lớn này của nhà vua vẫn còn tiếc mạng sống. Vì sao thế? Vì thớt voi
lớn của nhà vua này khi xông vào trận giặc chiến đấu, thì dùng cả chân trước,
chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, trán, tai, ngà, tất cả đều
dùng, chỉ gìn giữ chiếc vòi’. Này La-vân, nếu thớt voi lớn của nhà vua khi xông
vào trận giặc chiến đấu dùng cả chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương
sống, hông, đầu, trán, tai, vòi đều dùng tất cả. Tượng sự thấy vậy rồi liền suy
nghĩ như thế này: ‘Thớt voi lớn của nhà vua này không còn tiếc mạng sống nữa. Vì
sao thế? Thớt voi lớn của nhà vua này khi xông vào trận giặc chiến đấu, dùng cả
chân trước, chân sau, đuôi, bộ xương, hông, đầu, ngà, vòi, tất cả đều đem dùng’.
Này La-vân, nếu thớt voi lớn khi xông vào trận giặc chiến đấu mà dùng cả chân
trước, chân sau, đuôi, bộ xương, xương sống, hông, đầu, ngà, vòi, tất cả đều đem
dùng. Này La-vân, Ta nói thớt voi lớn của nhà vua khi xông vào trận giặc, chiến
đấu, không có việc dữ nào mà không làm, không ăn năn, không tàm, không quý. Này
La-vân, Ta nói rằng: Người kia cũng không có việc ác nào mà không làm. Do đó,
này La-vân, nên học như thế này: Không được đùa giỡn và nói dối”.
56.
Ác hạnh Tỷ kheo
94.
‘Kinh Hắc Tỷ kheo
“Hoặc có người thường ưa tranh cãi, không khen việc
đình chỉ tranh cãi. Nếu có người thường ưa tranh cãi, không khen việc đình chỉ
tranh cãi, thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến cho
có ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể
khiến nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất
ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người ác dục, không khen việc đình chỉ ác
dục. Nếu có người ác dục, không khen việc đình chỉ ác dục, thì đó là pháp không
thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến kính
trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không thể khiến xứng
đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới, làm
rách giới, ô uế giới và không khen việc trì giới. Nếu có người phạm giới, vượt
giới, sứt mẻ giới, làm rách giới, ô uế giới, thì đó là pháp không thể ái lạc,
không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng,
không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là
Sa-môn, không thể khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người có sân triền, có phú kết, có bỏn sẻn,
tật đố, có dua siểm, dối trá, có vô tàm, vô quý, không khen tàm quý. Nếu có
người có sân triền, có phú kết, bỏn sẻn, tật đố, có dua siểm, dối trá, có vô
tàm, vô quý, không khen tàm quý, thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái
hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến cho có kính trọng, không thể
khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không thể khiến xứng đáng là Sa-môn,
không thể khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh,
không khen sự tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh. Nếu có người không tiếp đãi các vị
đồng phạm hạnh, không khen sự tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh, thì đó là pháp
không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không thể khiến cho
có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không thể
khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ý, không thể khiến chứng
đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không quán các pháp, không khen việc
quán các pháp. Nếu có người không quán các pháp, không khen việc quán các pháp,
thì đó là pháp không thể ái lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến ái niệm, không
thể khiến cho có kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì,
không thể khiến xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ý, không thể
khiến chứng đắc Niết-bàn.
“Hoặc có người không tĩnh tọa, không khen tĩnh tọa.
Nếu có người không tĩnh tọa, không khen tĩnh tọa, thì đó là pháp không thể ái
lạc, không thể ái hỷ, không thể khiến cho có ái niệm, không thể khiến cho có
kính trọng, không thể khiến tu tập, không thể khiến nhiếp trì, không thể khiến
xứng đáng là Sa-môn, không thể khiến được nhất ý, không thể khiến chứng đắc
Niết-bàn.
“Những người như thế tuy nghĩ rằng: ‘Mong các vị đồng
phạm hạnh cúng dường, cung kính, lễ sự ta’, nhưng các vị đồng phạm hạnh không
cúng dường, cung kính, lễ sự người ấy. Vì sao? Vì người ấy có vô lượng điều ác
này. Nhân vì người &