PHẦN 4
151. Tứ
tướng trong kinh A hàm
152. Phiền não khác nhau phải dùng phương pháp khác nhau để đoạn trừ
153. Tu chỉ là sự kiểm tra lại tâm mình
154. Tu chỉ là sự thay đổi cách suy tư
155. Cứu cánh
chỉ có một
156. Pháp
tu của phái loã thể
157. Đức Phật không cấm bất cứ điều gì, Ngài chỉ cấm những việc làm liên hệ đến
tham sân và si
158. Đề Bà Đạt Đa sanh vào địa ngục
159.
Đi tìm lõi cây
160. Sự
kiện Cù Đàm Di xuất gia
161. Bố tát: Thế Tôn và Tỷ kheo cùng Bố tát
162. Người
mù dẫn người mù
163. Tu
tập như lên giây đờn
164. Bát
nạn
165. 5 giới
166. 4 pháp
tăng thượng tâm
167. Sự bần cùng của người xuất gia
168. Lời khuyên của đức Phật dành cho người tại gia, sống gia đình
169. Tại gia: Người kiếm tài vật tối thượng
170. Hữu học và
vô học
171. 7 điều không tốt cho người có tâm nóng giận
172. Tỷ kheo bị cư sĩ đuổi ra khỏi chùa
173. Thời kỳ A hàm người Ấn đã dùng thuyền vươn ra biển cả
174. Phương tiện tìm phương hướng của người xưa khi đi biển
175. Tuổi thọ càng ngày càng giảm, đời sống càng túng thiếu, do lòng tham lam
176. Chuyện ma quỷ
177.
Ma Ba Tuần phá hoại Phật pháp
178. Lễ lạy 6 phương và quan điểm của Phật đối với vấn đề này
179. Giáo pháp của Thế Tôn chỉ là những phương tiện đưa người đến gỉai thoát
180. Pháp nào là pháp cần phải tránh và không cần phải tránh
181. Lời dạy của Thế Tôn là chân thật
182. Nước Ma Kiệt Đà và Bạt Kỳ thù nghịch nhau
183. Đức Phật khuyên vua A Xà Thế không đánh nước Bạt Kỳ vì 7 yếu tố
184. 7 nguyên tắc làm cho Tăng già không bị suy yếu
185. Có 4 hiện tượng khiến chúng ta tin tưởng Thế Tôn
186. Sự khác biệt giữa người tu tập và không tu tập
187. Nỗi khổ của người tại gia và xuất gia khác nhau
188. Niềm vui của người tại gia và xuất gia khác nhau
189. Ước mơ
của vua là gì?
190. Ước mơ
của cư sĩ là gì?
191. Ước
mơ của người nữ là gì?
192. Ước
mơ của kẻ cướp là gì?
193. Ước
mơ của Sa-môn là gì?
194. Giai cấp
Bà La Môn
195. Trong 4 giai cấp, giai cấp nào phục vụ cho giai cấp nào
196. Thế nào gọi là giai cấp là Bà La Môn
197. Thế Tôn không chấp nhận chế độ phụng sự của 4 giai cấp
198. Chân lý không tùy thuộc vào quan điểm chủ trương
199. Bố thí đúng
pháp
200.
Trong 3 thời: quá khứ hiện tại và vị lai đức Phật chú trọng thời gian hiện tại
151. Tứ tướng trong kinh A hàm
91. ‘Kinh Chu Na Vấn Kiến’
“Bạch Thế Tôn, trong đời, các kiến chấp phát sanh và
phát sanh, tức các chủ trương có thần ngã (Pāli: attā),
có chúng sanh (satta), có nhân
(puggala), có thọ (āyu)
, có mạng (jīva), có thế gian (loka)
. Bạch Thế Tôn, biết như thế nào, thấy như thế nào để các kiến chấp này được
tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các tà kiến khác không tiếp diễn, không bị
chấp thủ?”
Bấy giờ Thế Tôn nói rằng: “Chu-na, trong đời, các kiến
chấp phát sanh và phát sanh, tức các chủ trương có thần ngã, có chúng sanh, có
nhân, có thọ, có mạng, có thế gian. Chu-na, nếu muốn các pháp diệt tận không dư,
thì phải biết như vậy, thấy như vậy mới có thể khiến cho các kiến chấp này được
tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các kiến chấp khác không tiếp diễn, không bị
chấp, hãy học pháp tiệm giảm.
152. phiền
não khác nhau phải dùng phương pháp khác nhau để đoạn trừ
92. ‘Kinh Thanh Bạch Liên Hoa
Dụ’
Đức Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
“Hoặc có pháp do nơi thân mà diệt trừ, không do nơi
miệng mà diệt trừ. Hoặc có pháp do nơi miệng mà diệt, không do nơi thân mà diệt.
Hoặc có pháp không do nơi thân và miệng diệt trừ nhưng do tuệï kiến để diệt trừ.
“Thế nào là pháp do nơi thân mà diệt trừ, không do nơi
miệng diệt trừ? Tỳ-kheo có thân hành bất thiện sung mãn, thọ trì đầy đủ, dễ dính
trước nơi thân, các thầy Tỳ-kheo thấy vậy khiển trách Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Hiền
giả, thân hành bất thiện sung mãn, thọ trì đầy đủ, sao lại dính trước nơi thân?
Hiền giả, nên bỏ thân hành bất thiện, tu tập thân hành thiện’. Thời gian sau, vị
Tỳ-kheo ấy bỏ thân hành bất thiện, tu tập thân hành thiện. Đó gọi là pháp do nơi
thân mà diệt trừ, không do nơi miệng mà diệt trừ.
“Thế nào là pháp do nơi miệng mà diệt trừ, không do
nơi thân diệt trừ? Tỳ-kheo khẩu hành bất thiện sung mãn, thọ trì đầy đủ và dính
trước nơi miệng. Các thầy Tỳ-kheo thấy vậy quở trách Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Hiền giả,
khẩu hành bất thiện sung mãn, thọ trì đầy đủ, sao lại dính trước nơi miệng? Hiền
giả, nên bỏ khẩu hành bất thiện, tu tập khẩu hành thiện’. Thời gian sau, vị
Tỳ-kheo ấy bỏ khẩu hành bất thiện, tu tập khẩu hành thiện. Đó gọi là pháp do nơi
miệng mà diệt trừ, không do nơi thân diệt trừ.
“Thế nào là pháp không do nơi thân, miệng mà diệt trừ,
nhưng chỉ do tuệ kiến để diệt trừ? Tham lam không từ thân, miệng diệt trừ, chỉ
do tuệ kiến mà diệt trừ. Cũng như thế, tranh tụng, nhuế, hận, sân triền, phú
kết, bỏn sẻn, tật đố, lừa gạt, dua siểm, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến không
do nơi thân, miệng diệt trừ, chỉ do tuệ kiến mà diệt trừ. Đó gọi là pháp không
do nơi thân, miệng mà diệt trừ, chỉ do tuệ kiến mà diệt trừ.
153.
Tu chỉ là sự kiểm tra lại tâm mình
110. ‘Kinh Tự Quán Tâm’
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Nếu có Tỳ-kheo
không thiện xảo quán tâm người khác, hãy thiện xảo tự quán sát tâm của chính
mình. Nên học như vậy.
“Thế nào gọi là Tỳ-kheo thiện xảo quán tự tâm? Tỳ-kheo
nếu có quán này, chắc chắn được nhiều lợi ích.‘Ta thường hành tham lam hay
thường hành không tham lam? Ta thường hành tâm sân nhuế hay thường hành tâm
không sân nhuế? Ta thường hành thùy miên triền hay thường hành không thùy miên
triền? Ta thường hành trạo hối, cống cao hay thường hành không trạo hối, cống
cao? Ta thường hành nghi hoặc hay thường hành không nghi hoặc? Ta thường hành
thân tránhhay thường hành không thân tránh? Ta thường hành tâm ô uế hay thường
hành tâm không ô uế? Ta thường hành tín hay thường hành bất tín? Ta thường hành
tinh tấn hay thường hành giải đãi? Ta thường hành suy niệm hay thường hành không
suy niệm? Ta thường hành tâm định hay thường hành tâm không định? Ta thường hành
ác tuệ hay thường hành không ác tuệ?’
“Nếu Tỳ-kheo khi quán liền biết, ‘Ta thường hành tham
lam, tâm sân nhuế, thùy miên triền, trạo hối, cống cao, nghi hoặc, thân tránh,
tâm ô uế, bất tín, giải đãi, không suy niệm, không tâm định, thường hành ác
tuệ’. Tỳ-kheo ấy muốn diệt trừ pháp ác bất thiện này phải nhanh chóng tìm cầu
phương tiện, học tập, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham nhẫn, đừng để bị
thoái chuyển. “Ví như bị lửa đốt cháy đầu,
cháy áo, nhanh chóng tìm cầu phương tiện cứu đầu, cứu áo. Cũng vậy, Tỳ-kheo muốn
diệt trừ pháp ác bất thiện này phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập,
tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham nhẫn, đừng để bị thoái chuyển.
154. Tu
chỉ là sự thay đổi cách suy tư
101. ‘Kinh Tăng Thượng Tâm’
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm, cần phải
thường xuyên suy niệm năm tướng. Thường xuyên niệm năm tướng thì niệm bất thiện
đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm được
tĩnh chỉ, chuyên nhất, được định tĩnh.
“Năm tướng đó là những gì? Tỳ-kheo suy niệm về một
tướng tương ưng thiện, nếu sanh niệm bất thiện, vị Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này
lại suy niệm về một tướng khác tương ưng với thiện, khiến niệm ác bất thiện
không sanh nữa. Khi vị Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này, lại suy niệm về một tướng
khác tương ưng với thiện thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác
diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, được định tĩnh.
“Cũng như người thợ mộc hay học trò thợ mộc kéo thẳng
dây mực, búng lên thân cây rồi dùng rìu bén mà đẽo cho thẳng; Tỳ-kheo cũng vậy,
nhân nơi tướng này mà suy niệm một tướng khác tương ưng với thiện, khiến niệm ác
bất thiện không sanh nữa. Khi Tỳ-kheo đó nhân nơi tướng này, lại suy niệm một
tướng khác tương ưng với thiện, niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác
diệt rồi, tâm liền được an trú, bên trong tĩnh chỉ chuyên nhất, đắc định. Nếu
Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm, cần phải luôn luôn suy niệm tướng thứ nhất
này. Do suy niệm tướng này, niệm bất thiện đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác
diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, được định tĩnh.
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng, tương ưng
với thiện, nếu sanh niệm bất thiện, Tỳ-kheo đó quán rằng: “Suy niệm ác này có
tai họa, suy niệm này là bất thiện, suy niệm này là ám, suy niệm này bị người
trí ghét, suy niệm này nếu đầy đủ thì không thể chứng đắc trí thông, không chứng
đắc giác đạo, không chứng đắc Niết-bàn, vì nó khiến sanh niệm ác bất thiện’. Vị
Tỳ-kheo đó quán sự ác như vậy, niệm bất thiện sanh khởi liền bị trừ diệt. Niệm
ác diệt rồi liền tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Như có người thiếu niên đẹp trai, khả ái, tắm gội
sạch sẽ, mặc y phục đẹp đẽ, lấy hương xoa khắp thân, cạo sửa râu tóc khiến rất
tinh khiết. Nếu lấy xác rắn, xác chó, hoặc xác người đã thâm xanh, sình chướng,
thối rữa, chảy nước dơ, đeo tròng vào cổ người ấy, người ấy liền ghét sự dơ bẩn
nên không hỷ, không lạc. Tỳ-kheo cũng vậy, Tỳ-kheo quán rằng ‘Niệm ác này có tai
họa, niệm này không thiện, niệm này là ác, niệm này người trí ghét. Nếu đầy đủ
niệm này thì không thể chứng đắc trí thông, không chứng đắc giác đạo, không
chứng đắc Niết-bàn vì nó khiến sanh niệm ác bất thiện’. Tỳ-kheo đã quán sự ác
như vậy, niệm bất thiện đã sanh liền trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an
trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng
tâm, cần phải luôn luôn niệm tướng thứ hai này. Khi niệm về tướng này thì niệm
bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm
tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng
với thiện mà sanh niệm bất thiện, và khi quán niệm ác có tai họa mà lại sanh
niệm bất thiện nữa, Tỳ-kheo đó không nên suy niệm về niệm này, vì nó khiến sanh
niệm ác bất thiện. Tỳ-kheo đó không suy niệm về niệm này nữa thì niệm bất thiện
đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trụ, nội tâm tĩnh
chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Như người có mắt, cảnh sắc nằm trong ánh sáng nhưng
không muốn nhìn. Người đó hoặc nhắm mắt, hoặc lánh thân đi, ý các ngươi nghĩ
sao, cảnh sắc nằm trong ánh sáng, người đó có thể cảm nhận được tướng dạng của
sắc không?”
Đáp rằng:
“Thưa không.”
“Tỳ-kheo cũng vậy, không nên suy niệm về niệm này, vì
nó khiến sanh niệm ác bất thiện. Khi vị Tỳ-kheo đó không suy niệm về niệm này
nữa, niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an
trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng
tâm, cần phải luôn luôn suy niệm tướng thứ ba này. Suy niệm về tướng này thì
niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú,
nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng
với thiện mà sanh niệm bất thiện, khi quán niệm ác có tai họa cũng sanh niệm bất
thiện, và trong khi không suy niệm về niệm đó nữa cũng lại sanh niệm bất thiện;
vị Tỳ-kheo đó vì niệm này, phải dùng hành tướng của tư duy để giảm dần niệm ấy,
khiến không sanh niệm ác bất thiện. Khi đối với niệm này, Tỳ-kheo đó phải dùng
hành tướng tư duy để giảm dần niệm ấy thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ
diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc
định.
“Như có người đi đường, bước nhanh trên đường, người
đó nghĩ rằng: ‘Tại sao ta đi nhanh? Giờ ta hãy đi chậm được chăng?’ Người đó
liền đi chậm lại, nhưng rồi lại nghĩ: ‘Tại sao ta đi chậm mà chẳng đứng lại?’
Người đó liền đứng lại, nhưng rồi lại nghĩ: ‘Tại sao ta lại đứng? Ta ngồi xuống
được chăng?’ Người đó liền ngồi xuống, nhưng rồi lại nghĩ: ‘Tại sao ta lại ngồi?
Ta nằm xuống được chăng?’ Người đó liền nằm xuống. Như vậy là người đó đang thực
hành pháp đình chỉ dần dần hành tướng thô của thân. Nên biết, Tỳ-kheo cũng giống
như thế. Đối với niệm này, Tỳ-kheo đó phải dùng hành tướng của tư duy mà giảm
dần niệm ấy để không sanh niệm ác bất thiện. Khi đối với niệm này, Tỳ-kheo đó
phải dùng hành tướng của tư duy, giảm dần niệm ấy, thì niệm bất thiện đã sanh
liền bị trừ diệt, niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, bên trong tĩnh chỉ,
chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm, cần phải suy niệm
luôn luôn tướng thứ tư này. Suy niệm tướng này thì niệm bất thiện đã sanh liền
bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên
nhất, đắc định.
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng, tương ưng
với thiện mà sanh niệm bất thiện, khi quán niệm ác có tai họa mà cũng sanh niệm
bất thiện, khi không suy niệm về niệm ác cũng sanh tiếp niệm bất thiện, và khi
phải dùng hành tướng của tư duy để giảm dần niệm ấy, cũng lại sanh tiếp về niệm
bất thiện nữa; Tỳ-kheo đó nên quán như vầy. Tỳ-kheo, vì nhân niệm này mà sanh
niệm bất thiện, Tỳ-kheo đó liền ngậm khít răng lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng
tâm để tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục tâm, khiến không niệm ác bất thiện.
“Khi vị Tỳ-kheo đó dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm và
hàng phục tâm thì niệm bất thiện đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi,
tâm liền được an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Như hai lực sĩ
bắt một người yếu, nắm vững và hàng phục nó, Tỳ-kheo cũng vậy, răng ngậm khít
lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục tâm để
không sanh niệm ác bất thiện. Khi vị Tỳ-kheo đó dùng tâm tu tâm, giữ chặt tâm và
hàng phục tâm thì niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm
liền được an trú, bên trong tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn
được tăng tượng tâm, cần phải luôn luôn suy niệm tướng thứ năm này. Suy niệm
tướng này thì niệm bất thiện đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm
liền được an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng thượng tâm thì cần phải
luôn luôn suy niệm năm tướng này. Luôn luôn suy niệm năm tướng thì niệm bất
thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm liền được an trú, nội tâm
tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Nếu Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với
thiện mà không sanh niệm ác, khi quán niệm ác có tai họa cũng không sanh niệm
ác, khi không suy niệm về niệm đó cũng không sanh niệm ác, khi dùng hành tướng
của tư duy để giảm dần niệm ấy cũng không sanh niệm ác, và khi dùng tâm tu tâm,
giữ chặt tâm và hàng phục tâm cũng lại không sanh niệm ác nữa, thì liền được tự
tại, muốn suy niệm thì suy niệm, không suy niệm thì không suy niệm.
192. ‘Kinh Niệm’
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng:
“Thuở xưa, khi chưa chứng quả giác ngộ Vô thượng chánh
tận, Ta nghĩ rằng: ‘Ta hãy chia các suy niệm]
làm hai phần, niệm dục, niệm nhuế, niệm hại làm một phần. Niệm vô dục, niệm vô
nhuế, niệm vô hại, làm một phần khác.’
“Sau đó, Ta liền chia các niệm làm hai phần, niệm dục,
niệm nhuế, niệm hại, làm một phần. Niệm vô dục, niệm vô nhuế, niệm vô hại, làm
một phần khác.
“Ta thực hành như vầây. Sống viễn ly, cô độc, tâm
không phóng dật, tu hành tinh tấn. Nếu sanh niệm dục, Ta liền biết là đang sanh
niệm dục, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, nhiều phiền nhọc, không
chứng đắc Niết-bàn. Biết rằng, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ,
nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn, nó liền tiêu diệt nhanh chóng.
“Nếu lại sanh niệm nhuế, niệm hại, Ta liền biết là
đang sanh niệm nhuế, niệm hại, hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ,
nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn. Biết rằng, hại mình, hại người, hại
cả hai, diệt trí tuệ, nhiều phiền nhọc, không chứng đắc Niết-bàn, nó liền được
tiêu diệt nhanh chóng.
“Khi sanh niệm dục, Ta không thọ nhận, mà đoạn trừ,
loại trừ, tống khứ; sanh niệm nhuế, niệm hại cũng không thọ nhận, mà đoạn trừ,
loại trừ, tống khứ. Vì sao vậy? Vì Ta thấy rằng, nhân nơi đó mà sanh vô lượng
pháp ác bất thiện. Ví như vào tháng cuối xuân, vì đã trồng lúa nên đất thả bò
không được rộng. Người chăn bò thả bò nơi đầm ruộng, bò vào đất người, nó liền
cầm roi đến ngăn lại. Vì sao vậy? Vì người chăn bò biết rằng nhân nơi đó mà có
lỗi lầm là sẽ bị chửi, bị đánh, bị trói. Do đó, chăn bò cầm roi đến ngăn lại. Ta
cũng như vậy, sanh niệm dục, không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ.
Sanh niệm nhuế, niệm hại cũng không thọ nhận, mà đoạn trừ, loại trừ, tống khứ.
Vì sao vậy? Vì Ta thấy nhân nơi đó mà sanh vô lượng pháp ác bất thiện.
“Tỳ-kheo tùy theo sự tư duy, tùy theo sự suy niệm của
mình mà tâm sanh ham thích trong đó.
155.
Cứu cánh chỉ có một
103. ‘Kinh Sư Tử Hống’
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo rằng: “Ở đây có
Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra không có Sa-môn,
Phạm chí; Dị học hoàn toàn không cóSa-môn, Phạm chí. Trong bất cứ chúng hội, các
ngươi hãy chân chánh rống tiếng rống như sư tử vậy. “Này các Tỳ-kheo, nếu
có người Dị học đến hỏi các ngươi, ‘Này chư Hiền, các ông có hành gì, lực gì,
trí gì mà các ông nói như vầy: ‘Ở đây có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba,
Sa-môn thứ tư. Ngoài đây ra không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn không có
Sa-môn, Phạm chí’. Trong bất cứ chúng hội các ông đều chân chánh rống tiếng rống
sư tử như vậy?”.
“Này các Tỳ-kheo, các ngươi nên trả lời Dị học ấy như
vầy: ‘Này chư Hiền, Đức Thế Tôn của tôi là bậc có trí, có kiến; là Như Lai, Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, thuyết giảng bốn pháp. Nhân nơi bốn pháp này mà chúng
tôi nói như vầy: ‘Ở đây có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư.
Ngoài đây ra không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn không có Sa-môn, Phạm
chí. Trong bất cứ chúng hội mà chúng tôi đều chân chánh rống tiếng rống sư tử
như vậy.’
“Bốn pháp đó là những gì? Này chư Hiền, chúng tôi tin
tưởng Đấng Tôn Sư, tin Pháp, tin sự thành mãn của giới đức, đồng đạo có ái kính,
có phụng sự chân thành.
“Này chư Hiền, Đức Thế Tôn của chúng tôi là bậc có
trí, có kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, thuyết giảng bốn pháp
này. Nhân bốn pháp này mà chúng tôi nói như vầy: ‘Ở đây có Sa-môn thứ nhất, thứ
hai, thứ ba, Sa-môn thứ tư. Ngoài ra không có Sa-môn, Phạm chí; Dị học hoàn toàn
không có Sa-môn, Phạm chí. Trong bất cứ chúng hội chúng tôi đều chân chánh rống
tiếng rống sư tử như vậy.’
“Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học cũng có thể lại nói: ‘Này
chư Hiền, chúng tôi cũng tin đấng Tôn sư, tức Tôn sư của chúng tôi; tin pháp,
tức pháp của chúng tôi; tin sự thành mãn của giới đức, tức giới của chúng tôi;
cũng ái kính bạn đồng đạo, phụng sự chân thành, là bạn đồng đạo xuất gia và tại
gia của chúng tôi. Này chư Hiền, giữa hai lời nói này, của Sa-môn Cù-đàm và của
chúng tôi, có gì hơn chăng? Có ý gì chăng? Có sai biệt gì chăng?’ Thì này các
Tỳ-kheo, các ngươi nên hỏi Dị học như vầy: ‘Này chư Hiền, cứu cánh là một hay
cứu cánh là nhiều?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền,
cứu cánh chỉ có một, cứu cánh không có nhiều’. Thì này các Tỳ-kheo, các ông hỏi
tiếp Dị học: ‘Này chư Hiền, người có dục mà được cứu cánh, hay người không có
dục mới được cứu cánh?’Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy, ‘Này chư
Hiền, người không có dục mới được cứu cánh, không phải người có dục mà được cứu
cánh’.
Thì này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy hỏi tiếp Dị học,
‘Này chư Hiền, người có nhuế mà được cứu cánh, hay người không có nhuế mà được
cứu cánh?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền, người
không có nhuế mà được cứu cánh, không phải người có nhuế mà được cứu cánh’. Này
các Tỳ-kheo, các ngươi hãy hỏi tiếp Dị học: ‘Này chư Hiền, người có si mà được
cứu cánh hay người không có si mà được cứu cánh?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học
trả lời như vầy: ‘Này chư Hiền, người không có si mà được cứu cánh, không phải
người có si mà được cứu cánh’. Thì này các Tỳ-kheo, các ngươi hãy hỏi tiếp Dị
học: ‘Này chư Hiền, người có ái, có thủ mà được cứu cánh, hay người không có ái,
không có thủ mà được cứu cánh?’ Này các Tỳ-kheo, nếu Dị học trả l&