Mục lục
201. Ý
nghĩa khái niệm trung đạo
202. Nên nói những lời nói nào và không nên nói những lời nói nào?
203.
Địa phương ngữ
204.
Thế nào gọi là Tỷ kheo Đa Văn
205. Thế nào gọi là Tỷ kheo thông minh?
206. Đàn
nai và người thợ săn
207.
7 loại bố thí cho Tăng chúng
208. Bố thí
cho từng người
209. Bố thí như thế nào để được phước đức?
210. Vô minh là nguồn gốc của phiền não
211. Thế nào gọi là ngu si và trí tuệ
212. Thế
nào gọi là xứ, phi xứ?
213. Những việc tỷ kheo cần phải làm
214. Các đại đệ tử của Phật có quan điểm khác nhau về việc làm thế nào để cho
Phật pháp được hưng thịnh
215. Hoà hợp
thanh tịnh
216. Làm thế nào để biết một vị khác có thực tu thực chứng hay không?
217. Quan điểm của Phật về ‘Nhất thiết trí, nhất thiết kiến’
218. 8
chánh đạo
219. Khái niệm ‘không’ trong Kinh A hàm
220. Thế nào gọi là phụng sự chánh pháp
221.
Lý do Phật chế không ăn chiều
222. Dù chỉ là ngôi nhà rách, người vợ chột mắt cũng rất khó bỏ
223. Tỷ kheo than cận với Tỷ kheo Ni
224. Lời nói
225. Thái độ Tỷ kheo khi bị khiển trách
226. Một ngày
ăn một bữa
227. Có hai loại lạc: Lạc liên hệ giải thoát và lạc liên hệ khổ đau
228. Tùy cơ
thuyết giáo
229. Sự kiện kỳ Na giáo rạn nứt chia rẽ
230. Có phải Kinh Châu Na này ghi lại sự chia rẽ trong Tăng đoàn không?
231. Có
liên quan đến Đại Thiên
232. Luật: bảy phương pháp đình chỉ đấu tranh
233. Luật: Pháp
Yết Ma
234.
Thế nào gọi là người ngu si
235. Địa ngục
236.
Làm được thân người là khó
237. Thế
nào là người trí tuệ?
238. Phật pháp bị hiểu sai và sự nguy hiểm của nó
239. Hiểu đúng Phật pháp và sự lợi ích của nó
240. Giáo pháp như chiếc bè qua sông
241. Thế Tôn đối với những vấn đề khen chê
242. 3 loại trai
giới
243. Hai loại
mong cầu
244. 5 hạ phần
kiết sử
245. Vấn đề đời trước đời sau và nhất thiết trí
246. Ngoại đạo phê bình Thế Tôn là người không biết biên tế đời trước đời sau
247. Sự khác nhau giữa chết và điệt thọ tưởng định
248. Sự
khác nhau giữa các định
249. Mối liên hệ giữa thọ, tưởng tư
250. Mối quan hệ giữa 5 căn và ý căn (Abhidhamma)
251. Còn gì
sau khi chết?
252. Bình đẳng giữa 4 giai cấp chỉ khác nhau hành nghiệp của mỗi người
253. Những việc làm người trí chê trách
254. 37 phẩm trợ đạo
255. Những vấn đề ngoại đạo thảo luận
Nội dung
201.
Ý nghĩa khái niệm trung đạo
169. ‘Kinh Câu Lâu Sấu Vô Tránh’
Phật dạy: “Đừng nên mong cầu dục lạc (Pāli:
na kāmasukham anuyuñjeyya,), là nghiệp vô cùng hèn hạ,
là hạnh của phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không phải
Thánh hạnh, không tương ưng với nghĩa (Pāli: amatthasamhita, không liên
hệ đến mục đích). Xa lìa hai cực đoan này thì có trung
đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa
đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn, có tán thán và chỉ trích, có sự không tán thán
và không chỉ trích mà nói pháp, quyết định đúng mức và sau khi đã biết quyết
định, thường tùy cầu sự lạc nào đã có bên trong. Đừng nói lời ám chỉ, cũng đừng
đối mặt khen ngợi; nói vừa phải chứ đừng quá giới hạn; tùy theo phong tục địa
phương (Pāli: janapadaniruttiṃ nābhinivesyya, đừng cố chấp địa phương
ngữ.), đừng nói thị, đừng nói phi. Đó là những vấn đề
của kinh ‘Phân biệt vô tránh’
“‘Đừng nên mong cầu dục lạc, là
nghiệp vô cùng hèn hạ, là hạnh của phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ
hạnh, rất khổ, không tương ưng với cứu cánh’. Vấn đề này được nói lên với nguyên
nhân nào? Ở đây, ‘Đừng nên mong cầu dục lạc, là nghiệp vô cùng hèn hạ, là hạnh
của phàm phu’. Đây là nói về một một cực đoan. ‘Cũng đừng mong cầu tự thân khổ
hạnh, rất khổ, không tương ưng với nghĩa’. Đây là nói về một cực đoan nữa. Do
bởi sự kiện này mà nói ‘Đừng nên mong cầu dục lạc, là nghiệp vô cùng hèn hạ, là
hạnh của phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hạnh, rất khổ, không tương ưng
với nghĩa’.
“‘Xa lìa hai cực đoan này thì có trung đạo, tác thành
con mắt, tác thành trí tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ,
đưa đến Niết-bàn’. Vấn đề này được nói lên với những nguyên nhân nào? Ở đây,
Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định, gọi là tám. Do bởi sự kiện
này mà nói ‘Xa lìa hai cực đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác
thành trí tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến
Niết-bàn’
202.
Nên nói những lời nói nào và không
nên nói những lời nói nào ?
169. ‘Kinh Câu Lâu Sấu Vô Tránh’
“‘Không nên nói lời ám chỉ, cũng không nên đối mặt tán
thán’, vấn đề này được nói lên với nguyên nhân nào?
“Có lời nói ám chỉ mà không chân thật, hư dối, không
tương ưng với nghĩa (Pāli: amatthasamhita, không liên hệ đến mục đích).
Cũng có lời nói ám chỉ mà chân thật, không hư vọng, tương ưng với nghĩa. Trong
này nếu có lời nói ám chỉ mà không chân thật, hư vọng, không tương ưng với
nghĩa, nhất định không nói những lời như vậy. Trong này nếu có lời nói ám chỉ mà
chân thật, không hư vọng, không tương ưng với cứu cánh, cũng hãy học đừng nói
như vậy. Ở đây nếu có lời nói ám chỉ chân thật, không hư vọng, tương ưng với
nghĩa thì hãy nên biết thời, chánh trí, chánh niệm để cho thành tựu lời nói ấy.
“Như vậy, ‘Đừng nói lời ám chỉ, cũng đừng đối mặt khen
ngợi’, vấn đề này được nói lên với nguyên nhân như vậy.
“‘Nói vừa phải, chứ đừng quá giới hạn’, vấn đề này
được nói lên với nguyên nhân nào?
“Nói quá giới hạn thì thân phiền nhọc, niệm hay quên,
tâm mệt mỏi, tiếng bị hư mà hướng đến trí thì không được tự tại. Nói vừa phải
thì thân không phiền nhọc, niệm không ưa quên, tâm không mệt mỏi, tiếng nói
không bị hư, hướng đến trí thì được tự tại.
“‘Nói vừa phải, đừng nói quá giới hạn’, vấn đề này
được nói lên với nguyên nhân như vậy….
“Trong đó nếu có lời nói ám chỉ mà không chân thật,
dối láo, không tương ưng với cứu cánh, pháp này là hữu tránh. Vì những sự kiện
nào mà nói pháp này là hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có phiền lao, có nhiệt
não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên nói pháp này là hữu tránh.
“Trong đó, nếu có lời chê bai sau lưng mà chân thật,
không dối láo, tương ưng với cứu cánh, pháp ấy là vô tránh. Vì sự kiện nào mà
nói pháp ấy là vô tránh? Vì pháp này không khổ, không có phiền lao, không có
nhiệt não, không có ưu sầu, thuộc về chánh hạnh, cho nên nói pháp này là vô
tránh.
“Không nói vừa phải. pháp này là hữu tránh. Vì những
sự kiện nào mà nói pháp này là hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có phiền lao, có
nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên nói pháp này là tranh chấp.
“Nói vừa phải, pháp này là vô tránh. Vì những sự kiện
nào mà nói pháp này là vô tránh? Vì pháp này không khổ, không có phiền lao,
không có nhiệt não, không có ưu sầu, thuộc về chánh hạnh, cho nên nói pháp này
là vô tránh.
“Thị và phi theo phong tục địa phương, pháp này là hữu
tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp này là hữu tránh? Vì pháp này có khổ, có
phiền lao, có nhiệt não, có ưu sầu, thuộc về tà hạnh, cho nên pháp này có tranh
chấp.
“Tùy phong tục địa phương, không
nói thị không nói phi, pháp này là vô tránh. Vì những sự kiện nào mà nói pháp
này là vô tránh? Vì pháp này không khổ, không có phiền lao, không có nhiệt não,
không có ưu sầu, thuộc về chánh hạnh, cho nên nói pháp này là vô tránh.
“Đó gọi là tránh pháp. Các ngươi nên biết pháp tránh
và pháp vô tránh. Đã biết pháp tránh và pháp vô tránh thì nên xả bỏ pháp tránh,
tu tập pháp vô tránh. Các ngươi cần phải học như vậy.
203.
Địa phương ngữ
169. ‘Kinh Câu Lâu Sấu Vô Tránh’
“Tùy theo phong tục địa phương,
đừng nói thị, đừng nói phi’, vấn đề này được nói lên với nguyên nhân nào? Thế
nào là thị và phi tùy theo phong tục địa phương? Địa phương này, nhân gian này,
sự việc này, hoặc nói là ‘cái chậu’, hoặc nói là ‘cái khay’, hoặc nói là ‘cái
ô’, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là ‘đồ đạc’; hay nói là cái khay, hay nói
là cái ô, hay nói là cái chén, hay nói là đồ đạc; mỗi nơi tùy theo khả năng mà
nói một mực rằng, ‘Đây là sự thực, ngoài ra là láo cả’. Như vậy, đó là tùy theo
phong tục địa phương mà nói thị hay phi vậy.
“Sao gọi là ‘Tùy phong tục địa phương, không thị không
phi’? Địa phương này, nhân gian này, sự việc này, hoặc nói là ‘cái chậu’, hoặc
nói là ‘cái khay’, hoặc nói là ‘cái o’â, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là ‘đồ
đạc’, và ở địa phương kia, nhân gian kia, sự việc kia, hoặc nói là ‘cái chậu’,
hoặc nói là ‘cái khay’, hoặc nói là ‘cái ô’, hoặc nói là ‘cái chén’, hoặc nói là
‘đồ đạc’. Với sự việc này hay sự việc kia, không tùy khả năng, không nói với một
mực rằng ‘Đây là sự thật, ngoài ra đều láo cả’, như vậy là tùy phong tục địa
phương không nói thị không nói phi.
204.
Thế nào gọi là Tỷ kheo Đa Văn
172. ‘Kinh Tâm’
Đức Thế Tôn nói: “Này Tỳ-kheo, những gì được
Ta thuyết giảng rất nhiều, là chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tha, nhân
duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu pháp và
thuyết nghĩa. Này Tỳ-kheo, nếu có thiện nam tử chỉ nghe Ta nói bốn câu kệ mà
biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp và tùy pháp, thuận theo phạm hạnh, thì này
Tỳ-kheo, nói Tỳ-kheo đa văn là chỉ nói như vậy chứ không hơn nữa. Này Tỳ-kheo,
như vậy là Tỳ-kheo đa văn. Như Lai tuyên bố như vậy là Tỳ-kheo đa văn”.
205.
Thế nào gọi là Tỷ kheo thông minh ?
172. ‘Kinh Tâm
Đức Thế Tôn nói: “Nếu Tỳ-kheo không có niệm gây
tự hại, không có niệm gây hại người, cũng không có niệm gây hại cả hai. Tỳ-kheo
chỉ có niệm làm lợi ích cho tự thân và lợïi ích cho người, lợi ích cho mọi
người, thương xót thế gian, mong muốn cho trời, người được lợi ích và phước
lành, được an ổn khoái lạc. Này Tỳ-kheo, như vậy là Tỳ-kheo thông minh có hiệt
tuệ, quảng tuệ, Như Lai tuyên bố như vậy là Tỳ-kheo thông minh có hiệt tuệ,
quảng tuệ”.
206.
Đàn nai và người thợ săn
178. ‘Kinh Lạp Sư’
Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng: “Người
thợ săn khi bẫy mồi nai, không có tâm như vầy ‘Mong cho nai được béo mập, được
tốt đẹp, được sức lực, được sung sướng, sống lâu’. Nhưng người thợ săn bẫy mồi
nai với tâm như vầy ‘Bẫy mồi là chỉ muốn chúng đến gần để ăn; đã đến gần để ăn
thì sẽ kiêu loạn phóng dật, mà đã kiêu sa phóng dật thì sẽ tùy thuộc thợ săn và
quyến thuộc thợ săn’. Người thợ ăn bẫy mồi nai với tâm như vậy.
“Đàn nai thứ nhất đến gần đồ mồi
của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn, bèn sanh kiêu sa phóng dật rồi do kiêu
loạn phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn. Như vậy là đàn
nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ hai suy nghĩ rằng ‘Đàn nai thứ nhất đã
đến gần để ăn đồ mồi của thợ săn. Sau khi chúng đến gần để ăn, bèn sanh kiêu
loạn phóng dật, rồi do kiêu sa phóng dật nên bị tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc
thợ săn. Như vậy là đàn nai thứ nhất không thoát khỏi cảnh giới thợ săn và quyến
thuộc thợ săn. Nay ta đừøng ăn đồ ăn của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương
nơi rừng vắng an toàn, ăn cỏ uống nước được chăng?’ Sau khi suy nghĩ, đàn nai
thứ hai liền bỏ mặc đồ mồi của thợ săn, tránh xa chỗ đáng sợ, nương ở nơi rừng
vắng an toàn, ăn cỏ uống nước. Đến tháng cuối mùa Xuân, cỏ nước đều hết, thân
thể chúng rất gầy ốm, khí lực hao mòn và rồi lại bị tùy thuộc thợ săn và quyến
thuộc thợ săn.
“Như vậy là đàn nai thứ hai cũng không thoát khỏi cảnh
giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ ba lại suy nghĩ rằng, ‘Đàn nai thứ nhất
và thứ hai, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ
săn. Nay ta hãy tránh xa thợ săn và quyến thuộc thợ săn, nhưng ở một nơi không
xa, sau đó hãy ăn đồ ăn của thợ săn mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần thì
không kiêu sa phóng dật. Do không kiêu loạn phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ
săn và quyến thuộc thợ săn’. Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ ba liền tránh xa thợ
săn và quyến thuộc thợ săn, nhưng ở một nơi không xa. Sau đó ăn đồ mồi của thợ
săn mà không đến gần. Ăn mà không đến gần nên không kiêu loạn phóng dật, rồi do
không kiêu sa phóng dật nên không tùy thuộc thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn nghĩ rằng ‘Đàn
nai thứ ba này khôn lanh kỳ lạ! Quả thật, rất khôn lanh! Vì sao? Vì chúng ăn đồ
ăn của ta mà ta không thể bắt được. Nay ta hãy bủa vòng lưới chạy dài. Sau khi
bủa lưới chạy dài chắc sẽ biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba
này’. Sau khi suy nghĩ, thợ săn và quyến thuộc thợ săn liền bủa vòng lưới chạy
dài và sau đó biết được chỗ ở, đường lui tới của đàn nai thứ ba. Như vậy, đàn
nai thứ ba cũng không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc thợ săn.
“Đàn nai thứ tư lại suy nghĩ, ‘Đàn nai thứ nhất, thứ
hai và thứ ba, tất cả đều không thoát khỏi cảnh giới của thợ săn và quyến thuộc
thợ săn. Nay ta hãy nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không đến
được. Sau đó hãy ăn đồ mồi của thợ săn mà đừng đến gần. Đã ăn mà không đến gần
thì không kiêu loạn phóng dật. Do không kiêu sa phóng dật, sẽ không bị tùy thuộc
thợ săn và quyến thuộc thợ săn’. Sau khi suy nghĩ, đàn nai thứ tư liền
nương ở một nơi mà thợ săn và quyến thuộc thợ săn không thể đến được, sau đó ăn
đồ mồi của thợ săn mà không đến gần. Đã ăn mà không đến gần nên không kiêu sa
phóng dật, rồi do không kiêu sa phóng dật nên không bị tùy thuộc thợ săn và
quyến thuộc thợ săn. Người thợ săn và quyến thuộc thợ săn lại suy nghĩ rằng:
“Đàn nai thứ tư này ranh mãnh xảo trá kỳ lạ! Quả thật ranh mãnh xảo trá, nếu ta
xua đuổi chúng, chắc chắn không thể được, vì những nai con khác sẽ kinh sợ bỏ
chạy tán loạn. Vậy ta hãy cứ bỏ mặc đàn nai thứ tư này’. Sau khi suy nghĩ, thợ
săn và quyến thuộc thợ săn liền bỏ mặc.
“Như vậy là đàn nai thứ tư thoát khỏi cảnh giới của
thợ săn và quyến thuộc thợ săn. “Này Tỳ-kheo, ta nói thí dụ này là muốn
các giải rõ ý nghĩa. Nay Ta nói đây, các ngươi hãy quán sát nghĩa lý: “Đồ
mồi của thợ săn, nên biết, đó là năm công đức của dục (Pāli: pañca
kāma-gunā): mắt biết sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi
hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm. Đồ mồi của thợ săn, nên biết, đó là năm niệm
công đức của dục. Người thợ săn, nên biết, đó chính là Ác ma vương. Quyến thuộc
của thợ săn, nên biết, đó chính là quyến thuộc của Ma vương. Đàn nai, nên biết
đó chính là Sa-môn, Phạm chí vậy.
207. 7 loại bố thí cho Tăng chúng
180. ‘Kinh Cù Đàm Di’
Thiện nam tử hay thiện nữ nhân có tín tâm khi Phật còn
tại thế, Phật là vị đứng đầu, mà bố thí cho Phật và chúng Tỳ-kheo, như vậy gọi
là loại bố thí thứ nhất cho Tăng chúng sẽ được đại phước, được đại quả, được đại
công đức, được quả báo rộng lớn.
“Thiện nam tử hay thiện nữ nhân có tín tâm, sau khi
Thế Tôn nhập Niết-bàn không lâu, bố thí cho cả hai bộ chúng, bố thí cho chúng
Tỳ-kheo, bố thí cho chúng Tỳ-kheo-ni; đi vào tinh xá Tỳ-kheo bạch với chúng rằng
‘Mong trong chúng ở đây cử ra một số Tỳ-kheo để chúng con được bố thí’; đi vào
tinh xá Tỳ-kheo-ni bạch với chúng rằng ‘Mong trong chúng ở đây cử ra một số
Tỳ-kheo-ni để chúng con được bố thí’. Như vậy gọi là loại bố thí thứ năm cho
Tăng chúng, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo
rộng lớn.
“Này A-nan, trong thời tương lai,
có Tỳ-kheo thuộc loại danh tánh,
khoác áo cà-sa mà không tinh tấn, vị ấy đã không tinh tấn, không tinh cần mà vẫn
được bố thí vì có ở trong chúng, duyên nơi chúng, ở trên chúng, nhân nơi chúng,
Ta nói lúc bấy giờ thí chủ sẽ được phước vô lượng không thể đếm, không thể kể,
được thiện, được lạc; huống nữa là bố thí cho Tỳ-kheo thành tựu hành sự,
thành tựu trừ sự,
thành tựu cả hành sự và trừ sự, thành tựu chất trực, thành tựu nhu nhuyến, thành
tựu cả chất trực và nhu nhuyến, thành tựu nhẫn, thành tựu lạc, thành tựu cả nhẫn
và lạc, thành tựu tương ưng, thành tựu kinh kỹ, thành tựu cả tương ưng và kinh
kỹ, thành tựu oai nghi, thành tựu hành lai du,
thành tựu cả oai nghi và hành lai du,
thành tựu tín, thành tựu giới, thành tựu đa văn, thành tựu thí, thành tựu tuệ,
thành tựu cả tín, giới, đa văn, thí, tuệ. Như vậy gọi là loại bố thí thứ bảy cho
Tăng chúng, sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo
rộng lớn.
“Đó gọi là bảy loại bố thí cho Tăng chúng sẽ được đại
phước, được đại quả, được đại công đức, được quả báo rộng lớn.
208.
Bố thí cho từng người
180. ‘Kinh Cù Đàm Di’
“Này A-nan, thế nào gọi là mười bốn loại bố thí riêng
cho từng người sẽ được đại phước, được đại quả, được đại công đức, quả báo rộng
lớn?
“Thiện nam tử hay thiện nữ có tín nhân bố thí cho Đức
Như Lai, bố thí cho Duyên giác, bố thí cho A-la-hán, bố thí cho A-la-hán hướng,
bố thí cho A-na-hàm, bố thí cho A-na-hàm hướng, bố thí cho Tư-đà-hàm, bố thí cho
Tư-đà-hàm hướng, bố thí cho Tu-đà-hoàn, bố thí cho Tu-đà-hoàn hướng, bố thí cho
Tiên nhân ngoại đạo ly dục, bố thí cho người tinh tấn, bố thí cho người không
tinh tấn, bố thí cho súc sanh.
209.
Bố thí như thế nào để được phước đức ?
180. ‘Kinh Cù Đàm Di’
“Lại nữa, này A-nan, có bốn loại
bố thí và chỉ ba loại được thanh tịnh.
“Những gì là bốn? (1) Có loại bố thí do thí chủ thanh
tịnh, không phải do người thọ nhận. (2) Có loại bố thí do người thọ nhận thanh
tịnh, chứ không phải do thí chủ. (3) Có loại bố thí không phải do thí chủ thanh
tịnh, cũng không phải do người thọ nhận. (4) Có loại bố thí do thí chủ thanh
tịnh và người thọ nhận cũng vậy.