Nội dung
1. Đức Phật không
phải là người lãnh đạo chúng tăng
Tương Ưng 5, trang 239 Này
Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp
không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không
bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm
đầu chúng Tỷ-kheo, hay : Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này
Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không
có nghĩ rằng: "Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo", hay "Chúng Tỷ-kheo chịu sự
giáo huấn của Ta", thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng
Tỷ-kheo?
2. Thế Tôn bị bịnh
Tương Ưng 1, trang 245 (bị đau
vì vấp phải miếng đá); 383 (Thế Tôn bị bịnh phong khí); Tương Ưng 5, trang
237~238:Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại làng Beluva. Ở đấy, Thế Tôn gọi các
Tỷ-kheo: Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy an cư vào mùa mưa xung quanh Vesàli, chỗ
nào có bạn bè, có người quen biết (sandittham), có người thân thiết
(sambhattam). Ở đây, Ta sẽ an cư mùa mưa tại làng Veluva này. Trong khi Thế Tôn
an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như
chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn. Rồi Thế
Tôn suy nghĩ: "Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị
ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn
nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống". Rồi Thế
Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống…);
Tương Ưng 5, trang 338 (Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng: Thật kinh hoàng thay,
bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay
không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân
được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ
căn, thiệt căn, thân căn. Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi
trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da
không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía
trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân
căn…Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc
diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm
tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập.
3. Lời di giáo của
Thế Tôn trước khi nhập niết bàn
Tương Ưng 5, trang 239~240 Này
Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối
của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy
được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống
giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai
không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô
tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái. Vậy này Ananda, hãy
tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương
tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình
là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một
điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,
không nương tựa một gì khác? Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên
thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên
các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là
ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một
điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,
không nương tựa một điều gì khác.
4. Vấn đề thần
thông
Tương Ưng 1, trang 318, 343,
Tương Ưng 4, trang 454; Tương Ưng 5, trang 414~415; 421~422 Phàm những Sa-môn
hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ, này các Tỷ-kheo, đã thực hiện nhiều loại
thần thông: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân, hiện hình,
biến hình, đi ngang qua tường, qua thành lũy, qua núi như đi ngang hư không,
trồi lên, độn thổ, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không nứt
ra như đi trên đất liền, ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim, với bàn
tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại thần lực, đại uy lực như
vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên; tất cả những vị ấy đều nhờ tu tập,
nhờ làm cho sung mãn bốn như ý túc….
5. Quan điểm của
đức Phật đối với vấn đề chiến tranh
Tương Ưng 1, trang 188~192
6. Quan điểm
của đức Phật đối vấn đề trọng nam khinh nữ
Tương Ưng 1, trang 194
7. Không phóng dật
Tương Ưng 1, trang 194~197
8. Bạn lành
Tương Ưng 1, trang 197; Tương
Ưng 5, trang 11 này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng,
thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này
Ananda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham,
liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập chánh tư duy... tu tập
chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh
tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến
ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỷ-kheo
thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm
cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.); Tương Ưng 5, trang 51 (Này các Tỷ-kheo, như
cái đi trước và điềm tướng báo trước mặt trời mọc, tức là rạng đông (arunuggam);
cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái đi trước và điềm tướng báo trước sự sanh khởi của
Thánh đạo Tám ngành, chính là bạn hữu với thiện.
9. Quan điểm của đức
Phật đối với vấn đề tài sản
Tương Ưng 1, trang 201~ 207
Tương Ưng 1, trang 209~ 213
11. Không ai có thể tránh
né được vô thường
Tương Ưng 1, trang 216~217, 240,
347 (Sau khi Thế Tôn diệt độ Phạm Thiên Brahmà nói bài kệ rằng: Mọi sinh vật ở
đời, tử bỏ thân năm uẩn, bậc đạo sư cũng vậy, Đấng tuyệt luân trên đời, Như Lai
đấng hùng lực, bậc giác ngộ nhập diệt
12. Vô thường
Tương Ưng 2, trang 428 (Này
Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?
-Là vô thường, bạch Thế Tôn. Cái gì vô
thường là khổ hay lạc? Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu xem cái ấy:
"Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi"?
Tương Ưng 1, trang 218
14. Bố thí
Tương Ưng 1, trang 219~222
15.
Vấn đề danh lợi và sống chết
Tương Ưng 1, trang 223~228
16. Quan điểm
của đức Phật về vấn đề xây dựng tự
viện
Tương Ưng 1, trang 404
Không thể có hội trường,
Nếu không có thiện nhân.
Không thể có thiện nhân,
Nếu không nói đúng pháp.
Những ai đã đoạn trừ,
Cả tham, sân và ái,
Nói lên lời đúng pháp,
Họ mới thật thiện nhân.
17. Vấn đề nói
năng
Tương Ưng 1, trang 415 Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nói lời thiện thuyết, không nói lời ác thuyết, nói lời
đúng pháp, không nói lời phi pháp, nói lời ái ngữ, không nói lời ác ngữ, nói lời
chơn ngữ, không nói lời phi chơn. Ðầy đủ bốn đức tính này, này các Tỷ-kheo, lời
nói được xem là thiện thuyết, không phải ác thuyết, vô tội và không bị người có
trí chỉ trích.
18. Quan điểm của
đức Phật đối với vấn đề khổ hạnh
Tương Ưng 1, trang 229; Tương
Ưng 4, trang 517~518 (Con có nghe rằng Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh,
bài bác, chống báng hoàn toàn mọi người sống khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ.
Những người nói như vậy, bạch Thế Tôn, không biết có nói đúng với lời Thế Tôn,
không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực, trả lời thuận pháp, đúng pháp, và
không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích? Này Thôn trưởng,
những ai đã nói như sau: "Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác,
chống báng hoàn toàn mọi lối sống khắc khổ"; họ nói không đúng lời Ta nói, họ
xuyên tạc Ta với điều không thật, với điều không chơn chánh. );531~534
19. Kinh nghiệm tu tập của đức
Phật
Tương Ưng 2, trang 185~190,
296~308 (294…: Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly
của địa giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của
thủy giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của hỏa
giới? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là sự xuất ly của phong
giới?" 4) Này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau:
5) "Lạc gì, hỷ gì khởi lên do duyên địa giới, đó là vị ngọt của địa giới.
Cái gì vô thường, khổ, biến hoại của địa giới, đó là nguy hiểm của địa giới. Sự
nhiếp phục dục và tham (chandaràga), sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của
địa giới"…. Này các Tỷ-kheo, cho đến khi nào
đối với bốn giới này Ta chưa như thực thắng tri (abbhannàsim) như vậy vị ngọt là
vị ngọt, như vậy nguy hiểm là nguy hiểm, như vậy xuất ly là xuất ly; thời cho
đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, Ta chưa được chứng ngộ, chưa chứng tri vô thượng
Chánh Ðẳng Giác, đối với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với chúng
Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người.)
20. Sống trong
hiện tại
Tương Ưng 1, trang 18
Không than việc đã qua,
Không mong việc sắp tới,
Sống ngay với hiện tại,
Do vậy, sắc thù diệu.
Do mong việc sắp tới,
Do than việc đã qua,
Nên kẻ ngu héo mòn,
Như lau xanh lìa cành.
21. Quan
điểm của đức Phật đối với vấn đề tín ngưỡng dân gian
Tương Ưng 1, trang 401~403
(tắm nước để được thanh tịnh Chánh pháp là ao hồ,
Giới là bến nước tắm, Không cấu uế,
trong sạch, Ðược thiện nhơn tán thán,
Là chỗ bậc có trí, Thường tắm, trừ uế
tạp, Khi tay chân trong sạch,
Họ qua bờ bên kia.
22. Ác
ma khuấy nhiễu đức Phật
Tương Ưng 1, trang 229~257, 276
(nữ sắc)
23. Thế Tôn nhập Niết bàn
(parinibhàna)
Tương Ưng 1, trang 346~348
Tương Ưng 1, trang 301~302 (xác
nhận đức Phật chứng ngộ dưới cội cây Bồ đề là pháp duyên khởi), 308 (Pháp duyên
khởi là chân lý)
Tương Ưng 2, trang 9~14 (Này các
Tỷ-kheo, thế nào là lý Duyên khởi? Này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành
duyên thức; thức duyên sanh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc
duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập
khởi. Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tập khởi.
4) Nhưng do ly tham, đoạn diệt
vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do thức
diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc
diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Dọ thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ
diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già
chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. Này
các Tỷ-kheo, như vậy gọi là đoạn diệt. Đồng thời giải thích 12 nhân duyên);
15~26 (Tường thuật về 7 vị Phật trong quá khứ cũng chứng ngộ về Pháp Duyên khởi
mà chứng được Niết bàn);
Tương Ưng 2, trang 51~52 (Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là lý duyên khởi? Do duyên sanh, này các Tỷ-kheo, già, chết
khởi lên. Dầu các Như Lai có xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh
ấy, pháp trú tánh ấy, pháp quyết định tánh ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn
toàn chứng ngộ, hoàn toàn chứng đạt định lý ấy. Sau khi hoàn toàn chứng ngộ,
hoàn toàn chứng đạt, Như Lai tuyên bố, tuyên thuyết, tường thuyết, khai hiển,
khai thị, phân biệt, minh hiển, minh thị. Tương đương Đại Tạng 2, p.
84b.);78~123 (giảI thích 12 nhân duyên); 134~139 (Do duyên con mắt và các sắc,
nhãn thức khởi lên. Do ba cái tụ hội nên xúc khởi. Do duyên xúc nên có thọ. Do
duyên thọ nên có ái. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ tập khởi…)
Tương Ưng 2, trang 171 (Ở đây,
này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy định lý duyên
khởi: "Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái
này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt". Ví như
do duyên vô minh, các hành sanh khởi. Do duyên hành, thức sanh khởi... Như vậy
là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
25.
Chư thiên thỉnh Phật nói pháp
Tương Ưng 1, trang 302~306
26. Giáo pháp của đức Phật là chân lý
Tương Ưng 1, trang
351 và 381 Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người
dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ
đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt
có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương
tiện trình bày, giải thích.);
Tương Ưng 3, trang 149 (Này các
Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không".
Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là
"có". Và này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta
cũng nói là "không"? Này các Tỷ-kheo, người có trí ở đời không chấp nhận sắc là
thường còn, thường hằng, thường trú, không chịu sự biến hoại, thời Ta cũng nói
là "không".
27. Tán thán
đức Thế Tôn
Tương Ưng 4, trang
28. Xá lợi Phất bị Tỷ kheo nhiếc mắng
Tương Ưng 1, trang 329~340
29. Tán thán
Xá Lợi Phất
Tương Ưng 1, trang 417 Tôn giả
Vangìsa t án thán: Trí tuệ thâm, trí giải, Thiện xảo đạo, phi đạo, Ngài
Sàriputta, Là bậc Ðại trí tuệ. Chính Ngài đang thuyết pháp, Cho các vị Tỷ-kheo.
Ngài giảng cách tóm tắt, Ngài cũng thuyết rộng rãi. Như âm thanh vi diệu, Của
loại chim Sàli, Lời Ngài giảng tuôn trào, Tiếng Ngài nghe ngọt lịm. Với giọng
điệu ái luyến, Êm tai, và mỹ diệu, Chúng lắng tai nghe pháp, Tâm phấn khởi hoan
hỷ, Này các vị Tỷ-kheo.) 420 Thế Tôn tán thán Xá lợi Phất: Này Sàriputta, Ta
không có gì chỉ trích Ông về thân, hay về lời nói. Này Sàriputta, Ông là bậc Ðại
trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Quảng trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Tốc trí. Này
Sàriputta, Ông là bậc Tiệp trí. Này Sàriputta, Ông là bậc Nhuệ trí. Này
Sàriputta, Ông là bậc Thể nhập trí. Này Sàriputta, ví như trưởng tử, con vua
Chuyển luân vương, chơn chánh vận chuyển bánh xe đã được vua cha vận chuyển.
Cũng vậy, này Sàriputta, Ông chơn chánh chuyển vận pháp luân vô thượng đã được
Ta chuyển vận.
30. Xá Lợi
Phất nhập diệt
Tương Ưng 5, trang 252 ~256 (Lúc
bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị
trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị giả của Tôn giả Sàriputta. Tôn giả nhập
Niết-bàn vì bệnh ấy. Rồi Sa-di Cunda cầm lấy y bát của Tôn giả Sàriputta đi đến
Sàvatthi, Thắng Lâm, tại khu vườn của ông Cấp Cô Ðộc, đi đến Tôn giả Ananda; sau
khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda, rồi ngồi xuống một bên. .. Ngồi một bên, Sa-di
Cunda nói với Tôn giả Ananda: Bạch Thượng tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung.
Ðây là y bát của vị ấy….
31. Tình cảm của Ananda
đối với Xá Lợi Phất
Tương Ưng 5, trang 253 (Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta trú
ở Magadha, tại làng Nàla, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Và Sa-di Cunda là thị
giả của Tôn giả Sàriputta…. Rồi Tôn giả Ananda và Sa-di Cunda đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, Sa-di Cunda này thưa như sau: "Bạch Thượng
tọa, Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung. Ðây là y và bát của vị ấy". Bạch Thế Tôn,
thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy (bàng hoàng) (madhurakajato). Các phương
hướng không hiện ra rõ ràng đối với con. Pháp sẽ không được giảng cho con, khi
con nghe tin Tôn giả Sàriputta đã mệnh chung.
32.
Tình cảm của Phật đối với tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên
Tương Ưng 5, trang 256~258 (Một
thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Vajjii, tại Ukkacelà, trên bờ sông Hằng, với đại
chúng Tỷ-kheo, sau khi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Moggalàna mệnh chung không
bao lâu.
Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi
ngoài trời, xung quanh có chúng Tỷ-kheo đoanh vây. Rồi Thế Tôn, sau khi nhìn
quanh chúng Tỷ-kheo im lặng, liền nói với các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, chúng
này của Ta được xem hình như trống không. Nay Sàriputta và Moggalàna đã mệnh
chung, này các Tỷ-kheo, chúng của Ta thành trống không. Phương hướng nào
Sàriputta và Moggalàna trú, phương hướng ấy không còn có ước vọng gì
(anapekkhà). Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá
khứ, các vị Thế Tôn ấy đã có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và
Moggalàna. Này các Tỷ-kheo, các bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác nào trong đời vị
lai, những bậc Thế Tôn ấy sẽ có một cặp đệ tử tối thắng như Ta có Sàriputta và
Moggalàna. Thật là vi diệu thay về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Thật hy hữu thay
về các đệ tử, này các Tỷ-kheo! Họ thực hành những lời dạy của đức Bổn sư. Họ làm
trách nhiệm giáo giới. Họ được bốn chúng ái kính, khả ý, khả kính, quý mến. Thật
vi diệu thay, này các Tỷ-kheo, về Như Lai! Thật hy hữu thay, này các Tỷ-kheo, về
Như Lai! Trong khi cặp đệ tử như vậy mệnh chung, Như Lai không có sầu buồn, hay
không có than khóc. Làm sao, này Ananda, lời ước nguyền này có thể thành tựu
được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là pháp hữu vi, là pháp bị diệt
hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như vậy không xảy ra. Ví như, này
các Tỷ-kheo, từ một cây lớn mọc thẳng, có lõi cây, những cành cây lớn hơn bị gãy
đỗ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, từ nơi đại chúng Tỷ-kheo đứng thẳng, có lõi cây,
Sàriputta và Moggalàna bị mệnh chung. Làm sao, này các Tỷ-kheo, ở đây, lời ước
nguyền này có thể thành tựu được: "Mong sao cái gì được sanh, được thành, là
pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như
vậy không thể xảy ra.
33.
Đức Phật khuyên Ananda về sự kiện ngài Xá lợi Phất nhập diệt
Tương Ưng 5, trang 253~254 Này
Ananda, Sàriputta có đem theo giới uẩn khi mệnh chung? Có đem theo định uẩn khi
mệnh chung? Có đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung? Có đem theo giải thoát uẩn khi
mệnh chung? Có đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung không? Bạch Thế Tôn,
Tôn giả Sàriputta không đem theo giới uẩn khi mệnh chung, không đem theo định
uẩn khi mệnh chung, không đem theo tuệ uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải
thoát uẩn khi mệnh chung, không đem theo giải thoát tri kiến khi mệnh chung.
Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả Sàriputta là vị giáo giới cho con, là vị đã vượt qua
(bộc lưu), là bậc giáo thọ, là vị khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho
hoan hỷ, là vị thuyết pháp không biết mệt mỏi, là vị hộ trì cho các đồng Phạm
hạnh. Chúng con đều ức niệm rằng Tôn giả Sàriputta là tinh ba của pháp
(dhammojam), là tài sản của pháp (dhammabhogam), là hộ trì của pháp..
Này Ananda, có phải trước đây Ta
đã từng tuyên bố với Ông rằng mọi pháp khả ái, khả ý đều có tánh chất khác biệt,
có tánh chất ly tán, có tánh chất đổi khác? Làm sao, này Ananda, ở đây, lời ước
nguyền này có thể thành tựu được: "Mong rằng cái gì được sanh, được thành, là
pháp hữu vi, là pháp bị diệt hoại, lại có thể không bị diệt hoại!"? Sự kiện như
vậy không xảy ra. Do vậy, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình,
hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm
ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nượng tựa một điều gì khác.
34. Vấn đề tụng đọc
Tương Ưng 1, trang 445 (Một
thời, một Tỷ-kheo sống giữa dân chúng Kosala, tại một khu rừng.
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy trước
kia siêng năng tụng kinh rất nhiều, sau một thời gian, trở thành thụ động, im
lặng, an phận.
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng
ấy không được nghe pháp từ Tỷ-kheo ấy, liền đi đến vị ấy.
Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên
những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
Này Tỷ-kheo, sao Ông
Sống chung các Tỷ-kheo,
Lại không chịu tụng đọc,
Các kinh điển pháp cú?
Ai nghe thuyết Chánh pháp,
Tâm sanh được tịnh tín.
Và ngay đời hiện tại,
Ðược mọi người tán than
35. Tỷ kheo xuất gia sống vì lợi dưỡng
Tương Ưng 1, trang 448~449:
Xưa sống thật an lạc,
Chúng đệ tử Cù-đàm,
Không tham tìm món ăn,
Không tham tìm chỗ trú,
Biết đời là vô thường,
Họ chấm dứt khổ đau.
Nay tự làm ác hạnh,
Như thôn trưởng trong làng,
Họ ăn, ăn ngã gục,
Thèm khát vật nhà người.
Con vái chào chúng Tăng,
Ðảnh lễ một vài vị,
Vất vưởng, không hướng dẫn.
Họ sống như ngạ quỉ.
Những ai sống phóng dật,
Vì họ, con nói lên,
Những ai không phóng dật,
Chân thành con đảnh lễ.
36. Ngoại đạo ganh tị với đức Phật
Tương Ưng 1, trang 349~358 (Lúc
bấy giờ, nữ Bà-la-môn Dhananjàni, vợ một người Bà-la-môn thuộc dòng họ
Bhàradvàja, có lòng tín thành đối với Phật, Pháp và Tăng.
Rồi nữ Bà-la-môn Dhananjàni,
trong khi bưng cơm cho Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja, hứng khởi thốt lên ba
lần lời cảm hứng: "Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác ấy!"
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn
thuộc dòng họ Bhàradvàja nói với nữ Bà-la-môn Dhananjàni:
Như vậy, trong mọi thời, mọi
dịp, kẻ hạ tiện này nói lời tán thán vị Sa-môn trọc đầu ấy. Này kẻ Hạ tiện kia,
ta sẽ luận phá bậc Ðạo Sư của Ngươi….
…(352~354) Bà-la-môn Akkosaka
Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn,
từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi
đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và
nhiếc mắng Thế Tôn…
Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ
không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?
Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ
không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.
Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông
phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không
nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu
nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này
Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ
báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như
vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn
chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy
với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về
lại Ông!
37. Quan
điểm của đức Phật đối với vấn đế tế lễ của Bà la môn
Tương Ưng 1, trang 175~177
Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala tổ chức một đại tế
đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con bò con đực, năm trăm con bò con cái, năm
trăm con dê, và năm trăm con cừu (urabbha) được dắt đến trụ tế lễ để làm lễ tế
đàn.
Và có những người nô tỳ, hay những người phục dịch, hay
những người lao động, bị hình phạt thúc đẩy, bị sợ hãi thúc đẩy,với nước mắt đầy
mặt, than khóc và làm các công việc chuẩn bị (cho lễ tế đàn).
Rồi rất nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi vào
Sàvatthi để khất thực; khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực
trở về, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala tổ chức một
đại lễ tế đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con bò con đực, năm trăm con bò con
cái, năm trăm con dê, năm trăm con cừu được dắt đến trụ tế lễ để làm lễ tế đàn.
Và có những người nô tỳ, hay những người phục dịch, hay những người lao công, bị
hình phạt thúc đẩy, bị sợ hãi thúc đẩy, với nước mắt đầy mặt và than khóc, làm
các công việc chuẩn bị cho lễ tế đàn.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, ngay trong lúc
ấy, nói lên bài kệ:
Lễ cúng ngựa, cúng người,
Quăng cọc, rượu chiến thắng,
Không chốt cửa, đại lễ,
Chúng không phải quả lớn.
Chỗ nào có giết hại,
Dê, cừu và trâu bò,
Lễ tế đàn như vậy,
Bậc Đại Thánh không đi.
Tế đàn không rộn ràng,
Cúng dường được thường hằng,
Không có sự giết hại,
Dê, cừu và trâu bò,
Lễ tế đàn như vậy,
Bậc Đại Thánh sẽ đi.
Bậc trí tế như vậy,
Tế đàn vậy, quả lớn.
Ai tế lễ như vậy,
Chỉ tốt hơn, không xấu,
Là tế đàn vĩ đại,
Được chư Thiên hoan hỷ
38. Sự
thanh tịnh hay không thanh tịnh không tùy thuộc việc niệm chú hay giai cấp
Tương Ưng 1, trang 362~363
Dầu lẩm bẩm nhiều chú,
Nhưng không vì thọ sanh,
Ðược gọi Bà-la-môn,
Nội ô nhiễm bất tịnh,
Y cứ trên lừa đảo,
Bà-la-môn, Phệ-xá,
Thủ-đà, Chiên-đà-la,
Kẻ đổ phẩn, đổ rác,
Tinh cần và tinh tấn,
Thường dõng mãnh tấn tu,
Ðạt được tịnh tối thắng,
Bà-la-môn nên biết!
39. Đức Phật bài bác
việc tụng chú của Bà la môn
Tương Ưng 1, trang 362~368
…Ta không có hưởng thọ,
Vì tụng hát kệ chú,
Thường pháp không phải vậy,
Ðối vị có tri kiến.
Chư Phật đã loại bỏ,
Tụng hát các kệ chú,
Chân thật niệm Chánh pháp,
Sở hành là như vậy.
40. Ngoại đạo luôn
luôn tìm cách phá hoại đạo Phật
Tương Ưng 4, trang 505~509 (Gia
Tộc (S.iv,322)
1) Một thời Thế Tôn du hành ở
giữa dân tộc Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến Nàlandà. Tại đây, Thế
Tôn trú ở Nàlandà, tại rừng Pàvarikamba.
2) Lúc bấy giờ, Nàlandà đang bị
đói kém, khó để lo miệng sống (dviihitikà), xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn
cọng rạ (sàlàkàvuttà).
3) Lúc bấy giờ Nigantha
Nàtaputta sống ở Nàlandà với đại chúng Nigantha.
4) Rồi Thôn trưởng
Asibandhakaputta, đệ tử của Nigantha Nàtaputta, đi đến Nigantha Nàtaputta; sau
khi đến đảnh lễ Nigantha Nàtaputta rồi ngồi xuống một bên.
5) Nigantha Nàtaputtta nói với
thôn trưởng Asibandhakaputta đang ngồi một bên:
-- Hãy đến, này Thôn trưởng, hãy
đến cật vấn Sa-môn Gotama. Như vậy, tiếng đồn tốt đẹp sẽ được lan khắp về Ông:
"Sa-môn Gotama, một vị có thần lực như vậy, có uy lực như vậy, đã bị thôn trưởng
Asibandhakaputta cật vấn!"
-- Thưa Tôn giả, làm thế nào con
có thể cật vấn Sa-môn Gotama, một vị có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như
vậy?
6) -- Hãy đến, này Thôn trưởng,
hãy đến Sa-môn Gotama; sau khi đến nói với Sa-môn Gotama như sau:
"-- Bạch Thế Tôn, có phải Thế
Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán bảo vệ
các gia đình, tán thán từ mẫn với các gia đình"?
Này Thôn trưởng, được hỏi như
vậy, nếu Sa-môn Gotama, trả lời như sau:
"-- Ðúng như vậy, này Thôn
trưởng, Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán
thán sự bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn".
Thời ông hỏi Sa-môn Gotama:
"-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn,
Thế Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng
sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn
phá các gia đình, thực hành sự bất hạnh cho các gia đình, thực hành sự tổn hại
cho các gia đình".
Như vậy, này Thôn trưởng, bị ông
hỏi với câu hỏi có hai đầu nhọn, Sa-môn Gotama không có thể nhổ ra, cũng như
không có thể nuốt xuống.
7) -- Thưa vâng, Tôn giả.
Thôn trưởng Asibandhakaputta
vâng đáp Nigantha Nàtaputta, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Nigantha Nàtaputta,
thân phía hữu hướng về người rồi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thôn trưởng đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
8) Ngồi xuống một bên, thôn
trưởng Asiband-hakaputta bạch Thế Tôn:
-- Có phải, bạch Thế Tôn, Thế
Tôn dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự bảo
vệ, tán thán lòng từ mẫn?
-- Ðúng vậy, này Thôn trưởng,
Như Lai dùng nhiều phương tiện tán thán, thương kính các gia đình, tán thán sự
bảo vệ, tán thán lòng từ mẫn.
-- Vậy vì sao, bạch Thế Tôn, Thế
Tôn cùng đại chúng Tỷ-kheo lại du hành tại Nàlandà đói kém, khó để lo miệng
sống, xương trắng đầy tràn, lúa chỉ còn cọng rạ? Như vậy, Thế Tôn thực hành tàn
phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành tổn hại cho các
gia đình.
9) -- Này Thôn trưởng, Ta nhớ từ
chín mươi mốt kiếp về trước, Ta không hề biết đã có làm hại một gia đình cho đến
một bữa cơm nấu cúng dường. Các gia đình ấy đều rất giàu, tiền của nhiều, tài
sản nhiều, vàng bạc nhiều, vật dụng nhiều, ngũ cốc nhiều. Tất cả tài sản ấy được
thâu hoạch do bố thí, được thâu hoạch một cách chân thật, được thâu hoạch một
cách tự chế.
10) Này Thôn trưởng, có tám
nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. Do quốc vương, các gia đình đi đến
tổn hại. Hay do trộm cướp, các gia đình đi đến tổn hại. Hay do lửa, các gia đình
đi đến tổn hại. Hay do nước, các gia đình đi đến tổn hại. Hay họ tìm không được
tiền của dấu cất. Hay do biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay trong gia đình khởi
lên kẻ phá hoại gia đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati
vidhamati viddhamseti). Và vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám
nhân, tám duyên này làm tổn hại các gia đình.
11) Này Thôn trưởng, vì rằng tám
nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: "Thế Tôn
thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành
tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói
ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị
ném vào địa ngục như vậy.
41.
8 nguyên nhân đưa đến nghèo đói
Tương Ưng 4, trang 509 (10) Này
Thôn trưởng, có tám nhân, có tám duyên làm tổn hại các gia đình. (1).Do quốc
vương, các gia đình đi đến tổn hại. Hay (2).do trộm cướp, các gia đình đi đến
tổn hại. Hay (3). do lửa, các gia đình đi đến tổn hại. Hay (4). do nước, các gia
đình đi đến tổn hại. Hay (5) họ tìm không được tiền của dấu cất. Hay (6) do
biếng nhác, họ bỏ bê công việc. Hay (7) trong gia đình khởi lên kẻ phá hoại gia
đình, người ấy phân tán, phá hoại, làm tổn hại (vikirati vidhamati viddhamseti).
Và (8) vô thường là thứ tám. Này Thôn trưởng, chính tám nhân, tám duyên này làm
tổn hại các gia đình.
11) Này Thôn trưởng, vì rằng tám
nhân này, tám duyên này có mặt, có hiện hữu, nếu ai nói về Ta như sau: "Thế Tôn
thực hành tàn phá các gia đình, thực hành bất hạnh cho các gia đình, thực hành
tổn hại cho các gia đình; thời này Thôn trưởng, nếu người ấy không bỏ lời nói
ấy, không bỏ tâm ấy, không từ bỏ kiến ấy, chắc chắn (yathàhatam) người ấy sẽ bị
ném vào địa ngục như vậy.
42.
Sự khác nhau giữa công việc của người tại gia và xuất gia
Tương Ưng 1, trang 378 (Này
Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ, tôi ăn. Này Sa-môn, Ông
có cày và gieo mạ không; sau khi cày và gieo mạ, Ông ăn? Này Bà-la-môn, Ta cũng
có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn …)
43. Người
con bất hiếu
Tương Ưng 1, trang 386~389
44. Sự khác
biệt giữa những người xin ăn và hạnh khất thực
Tương Ưng 1, trang 400.
Bà-la-môn Bhikkhaka bạch Thế
Tôn:
Thưa Tôn giả Gotama, con là
người khất thực và Tôn giả cũng là người khất thực. Vậy có sự sai khác gì giữa
chúng ta?
4) (Thế Tôn):
Không phải ai xin ăn,
Cũng gọi là khất sĩ.
Nếu chấp trì độc pháp,
Không còn gọi Tỷ-kheo.
Ai sống ở đời này,
Từ bỏ các phước báo,
Ðoạn trừ mọi ác pháp,
Hành trì theo Phạm hạnh,
Sống đời sống chánh trí,
Vị ấy xứng "Tỷ-kheo
45. Liên quan đến “Kinh Tứ
Thập Nhị Chương”
Tương Ưng 1, trang 353 (Thưa Tôn
giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các
loại đồ nếm. Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về
ai? Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng
tôi.
46. “Kinh Tương
Ưng” phát triển thành “Kinh Tung Bộ”
Tương Ưng 4, trang 276 (Ví như,
này Hiền giả, một người cần dùng lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi tìm lõi cây, cầm
cây búa sắc bén đi vào trong rừng. Ở đấy, người này thấy một thân cây chuối lớn,
thẳng, mới lớn và cao. Người ấy chặt đứt rễ cây, chặt đứt xong, người ấy chặt
ngọn. Sau khi chặt ngọn, người ấy lột vỏ ngoài ra. Người ấy ở đây không tìm được
giác cây, còn nói gì lõi cây.
47.
Chư Thiên và A Tu La đánh nhau
Tương Ưng 1, trang 481~505;
Tương Ưng 4, trang 326~327 (Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, cuộc chiến xảy ra giữa
chư Thiên và các A-tu-la rất là khốc liệt. Này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua
A-tu-la gọi các A-tu-la: "Này Thân hữu, trong cuộc chiến đang khởi lên giữa chư
Thiên và loài A-tu-la rất là khốc liệt, nếu các A-tu-la thắng và chư Thiên bại,
hãy trói Thiên chủ Sakka hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt vua ấy đến
trước mặt ta, trong thành của các A-tu-la". Còn Thiên chủ Sakka gọi chư Thiên ở
cõi trời Ba mươi ba: "Này Thân hữu, trong trận chiến giữa chư Thiên và các loài
A-tu-la, trận chiến rất là khốc liệt, nếu chư Thiên thắng và các loài A-tu-la
bại, hãy trói vua A-tu-la Vepacitti, hai tay, hai chân và thứ năm là cổ, và dắt
vua ấy đến trước mặt ta, trong giảng đường Sudhamma (Thiện Pháp)". Nhưng trận
chiến ấy, chư Thiên thắng và các loài A-tu-la bại. Rồi, này các Tỷ-kheo, chư
Thiên ở cõi trời Ba mươi ba trói vua A-tu-la Vepacitti, trói hai tay, hai chân
và thứ năm là cổ, rồi dẫn đến trước mặt Thiên chủ Sakka trong giảng đường
Sudhamma.
48. Bốn loại thức ăn
Tương Ưng 2, trang 27 (Này các
Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng
sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào
là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực,
bốn là thức thực.) Tương Ưng 2, trang 175~185
49. Đức Phật phản bác
hai cực đoan có và không
Tương Ưng 2, trang 37 (Này
Kaccàyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có. Này
Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không
chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccàyana, ai với chánh trí tuệ thấy như
chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có. Tương đương Đại
tạng 2 p.85c);
Tương Ưng 3, trang 2443 (Này
Hiền giả Channa, tôi tận mặt nghe Thế Tôn, tận mặt nhận lãnh từ Thế Tôn lời giáo
giới này cho Kaccànaghotta: "Thế giới này dựa trên hai (quan điểm), này Kaccàna,
hiện hữu và không hiện hữu. Ai thấy như thật với chánh trí tuệ sự tập khởi của
thế giới, thì không chấp nhận là thế giới không hiện hữu! Nhưng này Kaccàna, ai
thấy như thật với chánh trí tuệ sự đoạn diệt của thế giới, thì cũng không chấp
nhận là thế giới có hiện hữu. Thế giới này phần lớn, này Kaccàna, là chấp thủ
các phương tiện và bị trói buộc bởi thành kiến. Với ai không đi đến, không chấp
thủ, không an trú vào chấp thủ các phương tiện, tâm không an trú và thiên kiến
tùy miên, vị ấy không nói: 'Ðây là tự ngã của tôi". Với ai nghĩ rằng: 'Cái gì
khởi lên là đau khổ, cái gì diệt là đau khổ’, vị ấy không có phân vân, nghi
hoặc. Trí ở đây không mượn nhờ người khác. Cho đến như vậy, này Kaccàna, là
chánh trí".
"'Tất cả đều có’, này Kaccàna,
là một cực đoan. 'Tất cả đều không có’ là một cực đoan. Không chấp nhận hai cực
đoan ấy, này Kaccàna, Như Lai thuyết pháp một cách trung đạo. Do duyên vô minh,
nên hành khởi. Do duyên hành, nên thức khởi... Như vậy là sự tập khởi của toàn
bộ khổ uẩn này. Do sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn nên các hành
diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này".
50. Khổ do ai tạo ra
Tương Ưng 2, trang 41~45;
132~134 (giải thích nguyên nhân khổ sanh và diệt
51. Lạc do ai tạo
ra
Tương Ưng 2, trang 46~48.
52. Giới luật
Tương Ưng 5, trang 292 (Ở đây,
này các Tỷ-kheo, hãy sống hộ trì với sự hộ trì của Giới bổn (Pàtimokkha), đầy đủ
uy nghi chánh hạnh (àcàragocarasampanno), thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ
nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới. Này Tỷ-kheo, sau khi sống, hộ trì với
sự hộ trì của Giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những
lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và thực hành các học giới rồi, này Tỷ-kheo, y cứ trên
giới, an trú trên giới, hãy tu tập bốn niệm xứ.
53. Liên quan đến
vấn đề giới luật (Giới biệt trú)
Tương Ưng 2, trang 44 (Này
Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong
Pháp và Luật này, phải sống bốn tháng biệt trú; sau khi sống bốn tháng biệt trú,
nếu chúng Tăng đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
54. Những giới điều
liên quan đến nhà người cư sĩ
Tương Ưng 2, trang 346~348
55. 5 giới
Tương Ưng 2, trang 126~127;
Tương Ưng 5, trang 519~523 (Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như
sau: "Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng
sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy
là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống
một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc
không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả
ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một
pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho
một người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người
khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị
ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham).
Lại nữa, này các Gia chủ, vị
Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm,
như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không
cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả
ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng
không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không
khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy,
vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho,
nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn
toàn thanh tịnh.
Lại nữa, này các Gia chủ, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một
việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người
khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này
không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ý, không khả ái cho
người khác. Và một pháp này không khả ý, không khả ái cho ta, thời sao ta lại
đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh
trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán
thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn
thanh tịnh.
Lại nữa, này các Gia chủ, vị
Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo,
như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn
hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không
khả ý cho người ấy. Một pháp này... cho một người khác?" Do suy tư như vậy, vị
ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán
thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Lại nữa, này các Gia chủ, vị
Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai
lưỡi,như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ
bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không
khả ý cho người ấy. Một pháp không khả ái... đem cột pháp ấy cho một người
khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người
khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy,
về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
Lại nữa, này các Gia chủ, vị
Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là
một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người
khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người
ấy. Và một pháp không khả ái... đem cột pháp ấy cho một người khác?" Do suy tư
như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác
ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn
toàn thanh tịnh.
Lại nữa, này các Gia chủ, vị
Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời
phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta
cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một
việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Và một pháp không khả ái, không khả
ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một
pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho
một người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm,
khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù
phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.
56. 4 dự lưu hay 4 niềm tin bất động
Tương Ưng 2, trang 127~129
57. Đạo
Phật là Tôn giáo đề cao vai trò hiểu biết hay trí tuệ
Tương Ưng 2, trang 58 (Này các
Tỷ-kheo, đối với người biết, này các Tỷ-kheo, đối với người thấy, Ta nói các lậu
hoặc được đoạn diệt, không phải đối với người không biết, không phải đối với
người không thấy.);
Tương Ưng 3, trang 272~273 (Do
biết, do thấy, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố sự đoạn tận các lậu hoặc, không phải
do không biết, do không thấy);
Tương Ưng 4, trang 34 (Này các
Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả,
thời không có thể đoạn tận khổ đau.)
58. Nghiệp
Tương Ưng 2, trang 63~78(Này
Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố
khổ do tự mình làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ
trương về nghiệp, tuyên bố khổ do người khác làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một
số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương về nghiệp, tuyên bố khổ do tự mình làm và do
người khác làm. Này Hiền giả Sàriputta, có một số Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương
về nghiệp, tuyên bố khổ không do tự mình làm, không do người khác làm, khổ do tự
nhiên sanh.) ; Tương Ưng 4, trang493~505; Tương Ưng 5, trang 525~259 (Đức Phật
giải thích vấn đề sanh thú
59. Tứ thánh đế
Tương Ưng 2, trang 147~154;
Tương Ưng 3, trang 282~283 (Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ,
Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm?
Tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỷ-kheo. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh... phi
hữu ái. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
Khổ đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly,
sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Khổ
đoạn diệt. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt? Chính
là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt.);
Tương Ưng 5 trang 601~663 ; 601
60. Bát chánh đạo
Tương Ưng 5, trang 19~22 (Này
các Tỷ-kheo, thế nào là con đường Thánh đạo Tám ngành? Tức là chánh tri kiến...
chánh định.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh tri kiến? Này các Tỷ-kheo, chính là trí về khổ, trí về khổ tập, trí về khổ
diệt, trí về con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tri
kiến.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh tư duy? Này các Tỷ-kheo, chính là xuất ly tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư
duy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tư duy.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh ngữ? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ
nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh ngữ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh nghiệp? Này các Tỷ-kheo, chính là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho,
từ bỏ phi Phạm hạnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh nghiệp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh mạng? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đoạn trừ tà mạng, nuôi sống
với chánh mạng. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh mạng.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh tinh tấn? Ở đây, này các Tỷ-kheo, với mục đích khiến cho các ác, bất thiện
pháp từ trước chưa sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn,
sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp đã sanh được
trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích
khiến cho các thiện pháp từ trước chưa sanh nay được sanh khởi, khởi lên ý muốn,
cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm; với mục đích khiến cho các thiện pháp đã
được sanh có thể duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được
tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tấn, trì tâm.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là chánh tinh tấn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, với mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán
thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham
ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm với
mục đích điều phục tham ưu ở đời; Tỷ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm với mục đích điều phục tham ưu ở đời. Này các
Tỷ-kheo, đây gọi là chánh niệm.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là
chánh định? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và
trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm cho
tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm,
tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và
trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú
Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là chánh định.
Tương Ưng 5, trang 78 (Ví như,
này các Tỷ-kheo, vào cuối tháng mùa hạ, bụi mù bay lên, rồi có đám mây lớn trái
mùa thình lình làm chúng tiêu tan và tịnh chỉ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành, đối
với các ác, bất thiện pháp tiếp tục sanh thình lình làm chúng tiêu tan và tịnh
chỉ.
61. Kiết sử
Tương Ưng 2, trang 157~158 (Này
các Tỷ-kheo, ví như duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy
có người thỉnh thoảng rót thêm dầu và khơi tim lên. Này các Tỷ-kheo, ngọn đèn
dầu ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể cháy đỏ trong một
thời gian dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp
kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái, thủ sanh khởi... (như trên)... Như
vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi….
62. 5 uẩn
Tương Ưng 2, trang 170~175;
Tương Ưng 3, trang 46~69 (Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông, hãy từ
bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông…. Cũng vậy, này các
Tỷ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh
phúc, an lạc cho các Ông. Thọ không phải của các Ông... Tưởng không phải của các
Ông. Các hành không phải của các Ông... Thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ
nó. Từ bỏ nó sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.)
Tương Ưng 3, trang
111~121;161~163 (Giải thích về 5 uẩn); 125~128 (Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã.
Này các Tỷ-kheo, nếu sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn…vì sắc là
vô ngã. Do vậy sắc đi đến bệnh hoạn…); 155 (Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường.
Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật
thấy với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là
tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"…); 244~246 (Biết như thế nào, bạch Thế
Tôn, thấy như thế nào đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài,
không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?
63. 5 căn và 5 trần không
phải là kiết sử
Tương Ưng 4, tràng71~273
(Sariputta giải thích: Thưa Hiền giả, có phải con mắt là kiết sử của các sắc,
hay các sắc là kiết sử của con mắt?... Có phải ý là kiết sử của các pháp hay các
pháp là kiết sử của ý? Này Hiền giả Kotthika, con mắt không phải là kiết sử của
các sắc, các sắc không phải là kiết sử của con mắt; ở đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham. Dục tham ở đây là kiết sử... Ý không phải là kiết sử của các pháp,
các pháp không phải là kiết sử của ý; ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham.
Dục tham ở đây là kiết sử….
Này Hiền giả, Thế Tôn có mắt.
Với con mắt, Thế Tôn thấy sắc. Tham dục không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là
tâm Thế Tôn... Này Hiền giả, Thế Tôn có ý. Với ý, Thế Tôn biết pháp. Tham dục
không có nơi Thế Tôn. Khéo giải thoát là tâm Thế Tôn.
64.
Mục đích của người xuất gia
Tương ưng 4, trang 229 (Này các
Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: "Có cái gì, này chư Hiền,
Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?"; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông
cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau: "Này chư Hiền, vì liễu tri
đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".); Tương Ưng 5, trang 386 (Ví như,
này các Tỷ-kheo, sông Hằng thiên về phương Ðông, hướng về phương Ðông, xuôi về
phương Ðông. Cũng vậy, Tỷ-kheo tu tập năm căn, thiên về Niết-bàn, hướng về
Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn.
65. Sự khác biệt giữa 5 uẩn
và 5 thủ uẩn
Tương Ưng 3, trang 92~93 (Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng năm uẩn và năm thủ uẩn,
hãy lắng nghe. Này các Tỷ-kheo, thế nào là năm uẩn? Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc
gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng,
xa hay gần; đây gọi là sắc uẩn…. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thủ uẩn? Này
các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì quá khứ vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại...
hoặc xa hay gần, có lậu hoặc, được chấp thủ; đây gọi là sắc thủ uẩn….
66. Ngoại đạo trà
trộn trong tăng đoàn vì lợi dưỡng
Tương Ưng 2, trang 212 (Thưa
Hiền giả Susìma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn
Gotama. Sau khi ngài học Chánh pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi
chúng tôi học pháp ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ
được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và
chúng tôi sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và
dược phẩm trị bệnh.
67. Lòng ganh tị của
ngoại đạo về sự cúng dường
Tương Ưng 2, trang 211~ 212 (Thế
Tôn được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng
và Ngài nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược
phẩm trị bệnh. 3) Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được kính
lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận được các vật cúng dường như y
áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh. 4) Nhưng các du sĩ ngoại đạo không
được cung kính, không được tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường,
không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm
thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
68. Tư cách và mục đích của
người xuất gia
Tương Ưng 2, trang 227~228 (Này
các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết, không biết già
chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già
chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn
không được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn không được chấp nhận là
Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy không tự mình với thắng trí đạt được, chứng được
và an trú trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
4) Và này các Tỷ-kheo, những
Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết... (như trên)... biết con đường đưa đến
già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các
Sa-môn được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn được chấp nhận là
Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an
trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.
69. Sự khác biệt giữa các giới
hay xứ
Tương Ưng 2, trang 245~259
70.
Mọi việc đều có nhân và duyên
Tương Ưng 2, trang 263~ 268 (Này
các Tỷ-kheo, do duyên dục giới, dục tưởng sanh khởi. Do duyên dục tưởng, dục tư
duy sanh khởi. Do duyên dục tư duy, dục dục sanh khởi. Do duyên dục dục, dục
nhiệt tình sanh khởi. Do duyên dục nhiệt tình, dục tầm cầu sanh khởi. Này các
Tỷ-kheo, do tầm cầu dục tầm cầu, kẻ vô văn phàm phu thực hành tà hạnh theo ba
xứ: thân, ngữ, ý.
71. Ngưu
tầm ngưu mã tầm mã
Tương Ưng 2, trang 269~287 ( 277:Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất
tín. Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn. Kẻ không
biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe cùng hòa hợp,
cùng đi với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biếng nhác.
Kẻ thất niệm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ cùng hòa hợp,
cùng đi với kẻ ác tuệ.
72. Mười nghiệp
đạo
Tương Ưng 2, trang 292 (Kẻ sát
sanh cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ sát sanh. Kẻ lấy vật không cho. .. với kẻ lấy
vật không cho. Kẻ tà hạnh trong các dục... với kẻ tà hạnh trong các dục. Kẻ nói
láo... với kẻ nói láo. Kẻ nói hai lưỡi... với kẻ nói hai lưỡi. Kẻ ác ngữ... với
kẻ ác ngữ. Kẻ nói lời phù phiếm... cùng đi với kẻ nói lời phù phiếm. Kẻ có tham
tâm... với kẻ có tham tâm. Kẻ có sân tâm... với kẻ có sân tâm. Kẻ có tà kiến
cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ có tà kiến…
73. Luân hồi
vô thủy
Tương Ưng 2, trang 309 (Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không
thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị
tham ái trói buộc….
74. Rất
nhiều kiếp trôi qua
Tương Ưng 2, trang 312 (Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã
vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài
trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.
75. Nước mắt nhiều hơn nước
của đại dương
Tương Ưng 2, trang 312 (Các Ông
nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do
các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với
những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài
này hay là nước trong bốn biển lớn?
76. Sữa mẹ nhiều hơn nước của
đại dương
Tương Ưng 2, trang 314 (Các Ông
nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống
trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong
bốn biển?
Đạ Ca Diếp Maha Kassapa
Tương Ưng 2, trang 334~341 (Tán
thán Ca Diếp: Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa
nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng
tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao
động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say
đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.) 349 (Bạch Thế
Tôn, con là người đã lâu ngày sống ở rừng, và tán thán hạnh ở rừng; con là người
đi khất thực và tán thán hạnh khất thực; con là người mang y phấn tảo và tán
thán hạnh mang y phấn tảo; con là người mang ba y và tán thán hạnh mang ba y;
con là người thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục; con là người tri túc và tán
thán hạnh tri túc; con là người sống viễn ly và tán thán hạnh viễn ly; con là
người sống không giao thiệp và tán thán hạnh không giao thiệp; con là người tinh
cần và tán thán hạnh tinh cần.) ;
Tương Ưng 2, trang 351~387
(Những vấn đề có liên quan đến y bát, giới luật v.v…
Tương Ưng 4, trang 471~476 (gia
chủ Citta nói với lõa thể Kassapa: Tôn giả Kassapa, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?
Này Gia chủ, ta đã xuất gia khoảng ba mươi năm. Thưa Tôn giả, trong ba mươi năm
ấy, Tôn giả có chứng được pháp thượng nhơn nào, tri kiến thù thắng nào xứng đáng
bậc Thánh và được lạc trú? Này Gia chủ, trong suốt ba mươi năm ấy, ta không
chứng được và không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến thù
thắng xứng đáng bậc Thánh, ngoại trừ sự lõa thể, sự trọc đầu, sự phủi bụi và đất
cát (pàvàlanipphotana). …Lõa thể Kassapa được xuất gia trong Pháp và Luật này,
được thọ đại giới. Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Kassapa sống một
mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Không bao lâu vị ấy đạt
được mục đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình hướng đến: đó là Vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, tự mình chứng tri
với thượng trí, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
77. Chánh
pháp và tượng pháp
Tương Ưng 2, trang 385 (Này
Kassapa, diệu pháp không biến mất cho đến khi nào tượng pháp không hiện ra ở
đời. Và Kassapa khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến mất. 6) Ví
như, này Kassapa, vàng (thật) không biến mất khi nào vàng giả chưa hiện ra ở
đời. Và này Kassapa, khi nào vàng giả hiện ra ở đời, thời vàng (thật) biến mất.
7) Cũng vậy, này Kassapa, diệu pháp không biến mất, khi nào tượng pháp chưa hiện
ra ở đời. Và này Kassapa, khi nào tượng pháp hiện ra ở đời, thời diệu pháp biến
mất.
78. Tranh cãi đúng sai về
lời dạy của Phật
Tương Ưng 5, trang 608 (Này các
Tỷ-kheo, chớ có nói lời tranh luận nhau: "Ông không biết Pháp và Luật này. Tôi
biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh.
Tôi theo chánh hạnh. Ðiều đáng nói trước, Ông lại nói sau. Ðiều đáng nói sau,
Ông lại nói trước. Lời nói tôi tương ưng. Lời nói Ông không tương ưng. Ðiều Ông
quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Hãy đi
giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được".
Vì sao?
Những câu chuyện ấy, này các
Tỷ-kheo, không liên hệ đến mục đích, không phải căn bản cho Phạm hạnh, không đưa
đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
79. Thiểu số là
người ít tham đa số là người tham
Tương Ưng 1, trang 170~171 (Ngồi
xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
Ở
đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một mình, tư tưởng này khởi
lên nơi con: "Ít thay là những người trong đời này, sau khi được tài sản phong
phú, dồi dào lại có thể không bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê
trong các dục và không có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác.
Trái lại, thật là nhiều thay, những người trong đời này, sau khi được tài sản
phong phú, dồi dào, có thể bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và
có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác.
Thật
sự là vậy, thưa Đại vương. Thật sự là vậy, thưa Đại vương. Ít thay là những
người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, lại có thể không
bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê trong các dục và không có những
hành vi không tốt đẹp đối với người khác. Trái lại, thật là nhiều thay những
người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, có thể bị lôi
cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và có những hành vi không tốt đẹp đối
với các người khác.
80. Vấn đề danh
và lợi
Tương Ưng 2, trang 389~425 (Khổ
lụy, này các Tỷ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác
độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách. 4) Do
vậy, này các Tỷ-kheo, cần phải học tập như sau: "Ðối với lợi đắc, cung kính,
danh vọng đã đến, chúng ta sẽ từ bỏ chúng. Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng
chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".
81. Nhân quả
Tương Ưng 2, trang 445~458
82.
Sinh được làm người là khó
Tương Ưng 2, trang 460 (Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, rất ít là chúng sanh được tái sanh làm người! Còn rất
nhiều là những chúng sanh phải tái sanh ra ngoài loài Người.
83. Sự nhập diệt của Thế Tôn có làm cho tâm của Xá lợi Phất đau khổ không?
Tương Ưng 2, trang 479~480 (Tôn
giả Sàriputta nói: Ở đây, này các Hiền giả, trong khi tôi độc trú tĩnh cư, tâm
tưởng tư duy như sau được khởi lên: "Có cái gì trong đời, khi bị biến hoại,
trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta sầu, bi, khổ, ưu, não?". Rồi này
các Hiền giả, tôi suy nghĩ: "Không có cái gì trong đời, khi bị biến hoại, trạng
huống đổi khác, có thể khởi lên nơi ta, sầu bi khổ ưu não". 4) Khi được nói vậy,
Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàriputta: Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Sàriputta,
khi bị biến hoại, trạng huống đổi khác, có thể khởi lên nơi Hiền giả sầu, bi,
khổ, ưu, não. Bậc Ðạo Sư, này Hiền giả Ananda, khi bị biến hoại, trạng thái đổi
khác, không có thể khởi lên nơi ta sầu bi khổ ưu não. Nhưng ta có thể suy nghĩ:
"Mong rằng bậc Ðại Thế Lực, bậc Ðạo Sư có đại thần thông, có đại uy lực chớ có
biến diệt! Nếu bậc Thế Tôn ấy an trú lâu dài, thời như vậy thật là hạnh phúc cho
quần sanh, thật là an lạc cho quần sanh, vì lòng từ mẫn cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người".
84. Thân
bịnh và tâm bịnh
Tương Ưng 3, trang 13 (Thế nào,
này Gia chủ, là thân bịnh và tâm bịnh? Ở đây, này Gia chủ, có kẻ vô văn phàm
phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu
tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp
các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã,
hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy
bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta!"
khi sắc biến hoại, đổi khác; do sắc biến hoại, đổi khác, nên vị ấy khởi lên sầu,
bi, khổ, ưu não…
85.
Thân bịnh và tâm không bị bịnh
Tương Ưng 3, trang 14 (Thế nào,
này Gia chủ, là thân có bịnh nhưng tâm không có bịnh? Ở đây, này Gia chủ, vị đa
văn Thánh đệ tử hiểu rõ các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập
pháp các bậc Thánh, hiểu rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân
nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã
như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Vị ấy không bị ám
ảnh: "Sắc là ta, sắc là của ta". Do vị ấy không bị ám ảnh: "Sắc là ta, sắc là
của ta" khi sắc biến hoại, đổi khác; nên không do sắc biến hoại, đổi khác mà
khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não!
86. Tinh thần tùy
duyên bất biến trong đạo Phật
Tương Ưng 3, trang 18 (Chúng tôi
muốn, thưa Hiền giả Sàriputta, đi đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở
quốc độ phương Tây. Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi. Này các Hiền giả, có những
người đặt câu hỏi với vị Tỷ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị
hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này
chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát (sẽ hỏi): "Bậc Ðạo Sư của Tôn
giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo
tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?" Ðể khi trả lời, các Tôn
giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều
không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng với Chánh pháp, và không để một vị
đồng pháp nào, nói lời đúng pháp, có thể có lý do để quở trách.
87. Nhân của khổ
Tương Ưng 3, trang 35~39 (Ở đây,
này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh, không thuần
thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ các bậc
Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc
Chân nhân, người ấy quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở
trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Ðối với vị ấy, sắc ấy biến hoại và đổi
khác. Ðối với vị ấy, khi sắc ấy biến hoại và đổi khác, thức tùy chuyển theo sự
biến hoại của sắc. Các pháp ưu não sanh khởi do thức tùy chuyển theo sự biến
hoại của sắc sau khi xâm nhập tâm và an trú. Do tâm bị xâm chiếm nên khủng bố,
chướng ngại, khát vọng được sanh khởi và ưu não.
88. Sắc của 3 thời là
vô thường là khổ là vô ngã
Tương Ưng 3, trang 39~43 (Này
các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, trong quá khứ, trong vị lai, còn nói gì đến hiện
tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá khứ không
tiếc nuối (anapekkha), đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại
hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt..
Sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ,
quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn
Thánh đệ tử, đối với sắc quá khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan
hỷ, đối với sắc hiện tại hướng đến yếm ly, ly tham đoạn diệt…
Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã,
quá khứ, vị lai, còn nói gì đến hiện tại. Vị Ða văn Thánh đệ tử đối với sắc quá
khứ không tiếc nuối, đối với sắc vị lai không hoan hỷ, đối với sắc hiện tại
hướng đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt.
89. Nương tựa
chính mình
Tương Ưng 3, trang 83 (Hãy sống
tự mình làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, hãy nương tựa nơi chính
mình, không nương tựa một ai khác. Hãy lấy pháp làm hòn đảo, hãy lấy pháp làm
chỗ nương tựa, không nương tựa một ai khác.
Với những ai sống tự mình
làm hòn đảo cho chính mình, này các Tỷ-kheo, nương tựa nơi chính mình, không
nương tựa một ai khác. Lấy pháp làm hòn đảo, lấy pháp làm chỗ nương tựa, không
nương tựa một ai khác.
90. Tỷ
kheo thiện xảo về 7 x ứ
Tương Ưng 3, trang 116~122 (Vị
Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, này các Tỷ-kheo, quán sát theo ba cách, được gọi
là một vị toàn vẹn trong Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một bậc tối
thượng nhân. Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo biết rõ (pajànati) sắc, biết rõ sắc tập khởi,
biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ vị ngọt
của sắc, biết rõ sự nguy hiểm của sắc, biết rõ sự xuất ly của sắc…
91. Sự sai khác giữa Phật và A la hán
Tương Ưng 3, trang 123 (Ở đây,
này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào là sự đặc thù, thế nào là sự
sai khác giữa bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải
thoát nhờ trí tuệ?…Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc đem lại con đường
(trước kia) chưa được đem lại, là bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa
được tuyên thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về đạo. Còn nay, này
các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).
Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự sai khác giữa Như Lai, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bậc Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.
92.
Thuyết không nhân không duyên
Tương Ưng 3, trang 129 (Puràna
Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp), bạch Thế Tôn, thuyết như sau: "Không nhân, không
duyên là sự nhiễm ô của chúng sanh. Không nhân, không duyên, chúng sanh bị nhiễm
ô. Không nhân, không duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh. Không nhân, không
duyên, chúng sanh được thanh tịnh".); Tương Ưng 3, trang 358, Tương đương Tạp A
hàm, Đại tạng 2, 44a (Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái gì, do
thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: "Không có nhân, không có duyên, các
loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không
có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên,
các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có
nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả chúng sanh, tất cả hữu tình, tất
cả sinh vật, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Họ bị
dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của họ, bởi cá tánh của
họ. Họ hưởng thọ khổ, lạc, y theo sáu loại thác sanh của họ"?
93. Thuyết phủ nhận giá trị
của đạo đức
Tương Ưng 3, trang 358, Tương
đương Tạp A hàm Đại tạng 2, 43c (Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: "Không có bố thí, không có lễ
hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời
này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có các loài hóa sanh. Ở
đời, không có những vị Sa-môn chánh hạnh, chánh hướng, đã tự mình chứng tri,
chứng ngộ đời này và đời khác, và truyền dạy lại. Con người này do bốn đại hợp
thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại cho địa giới; thủy đại trở về trả
lại cho thủy giới; hỏa đại trở về trả lại cho hỏa giới; phong đại trở về trả lại
cho phong giới; các căn nhập vào hư không. Bốn người gánh quan tài với người nằm
trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi (đến chỗ hỏa táng), thốt ra những
lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ câu và những vật cúng dường trở thành
tro bụi. Chỉ có người ngu mới tán dương bố thí. Lời nói của họ trống không, giả
dối, khi họ thuyết có sự sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại
mạng chung, sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết"?) Tương Ưng
4, trang 550
94. Thuyết phủ nhận
giá trị nhân quả nghiệp báo
Tương Ưng 3, trang 358, Tương
đương Tạp A hàm, Đại tạng 2, 44b (Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, (tà) kiến này khởi lên: "Tự làm hay khiến người làm,
chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền
muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự
mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa
nhà mà vào cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ
người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc
bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng
thịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ
phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu,
khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác. Nếu có người đi trên bờ
phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng
không vì vậy mà có phước báo. Bố thí, điều phục, cấm giới, tự chế, tôn trọng sự
thật, không có phước đức, không đưa đến phước đức"?) Tương Ưng 4, trang 552
95.
Thuyết duy vật (Thắng luận?)
Tương Ưng 3, trang 358, Tương
đương Tạp A hàm, Đại tạng 2, 44b (Do có cái gì, này các Tỷ-kheo, do chấp thủ cái
gì, do thiên chấp cái gì, khởi lên (tà) kiến như sau: "Có bảy thân không bị làm
ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại
như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không
xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và
lạc"?
Bảy thân ấy là gì? - Ðịa thân,
thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này không
bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản,
thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển
biến, không xâm lăng nhau, chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc
cả khổ và lạc.
Khi một ai dùng lưỡi kiếm sắc
bén chém đầu, thời không có ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi
vào giữa bảy thân mà thôi.
Có tất cả là 1.400.000 chủng
loại thác sanh, lại có thêm 6.000 và có thêm 600 nữa. Có 500 loại nghiệp và năm
nghiệp (theo 5 căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp
(thân và khẩu), và bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, sáu giai cấp, tám
nhân địa, 4.900 sanh nghiệp, 4.900 kẻ du hành, 4.900 chỗ ở của loài Nàga, 2.000
căn, 3.000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết
thai, 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (rừng hay hồ
nhỏ), 7 papàta (vực thẳm), 700 papàta (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng, có 8 trăm 40
vạn đại kiếp, trong thời gian ấy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân
hồi sẽ trừ tận khổ đau.
Không có lời nguyền: "Với giới
hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm
cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã
thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những
vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu
thốn.
Ví như một cuộn chỉ được tung ra
sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau
khi lưu chuyển luân hồi sẽ đoạn tận khổ đau".
96.
Những thân nhân của đức Phật
Tương Ưng 3, trang 193 (Tôn giả
Tissa, cháu trai Thế Tôn)
97. Nghi ngờ
giáo Pháp
Tương Ưng 3, trang 193~194 (Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Tissa, cháu trai Thế Tôn, có nói với một số đông Tỷ-kheo: "Này
chư Hiền, thân ta như bị say vì vị ngọt (nặng nề và bại hoại). Ta không thấy rõ
các phương hướng. Ta không phân biệt được các pháp. Thụy miên, hôn trầm xâm
chiếm tâm ta và tồn tại. Ta sống Phạm hạnh không còn thoải mái, và ta nghi ngờ
đối với các pháp".
98.
Đức Phật chỉ là bậc Đạo sư
Tương Ưng 3, trang 198 (Người
không giỏi về đường sá, này Tissa,là ví cho kẻ phàm phu. Người giỏi về đường sá,
này Tissa, là ví cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
99. Hiểu
sai lời Phật dạy
Tương Ưng 3, trang 199 (Tỷ kheo
Yamaka khởi lên ác tà kiến sau đây: "Như ta hiểu lời Thế Tôn thuyết pháp,
Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ đoạn tận, sẽ
diệt tận, không còn gì nữa sau khi chết".
100. Không
như thật tuệ tri
Tương Ưng 3, trang 206~207 (Cũng
vậy, này Hiền giả, kẻ vô văn phàm phu, không được thấy rõ các bậc Thánh, không
thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không thấy rõ
các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp
các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở
trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc; quán thọ... quán tưởng... quán các hành...
quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay
tự ngã ở trong thức.
"Sắc là vô thường", người ấy
không như thật biết rõ: "Sắc là vô thường"; "Thọ là vô thường", người ấy không
như thật biết rõ: "Thọ là vô thường"; tưởng là vô thường, người ấy không như
thật biết rõ: "Tưởng là vô thường"; "Các hành là vô thường", người ấy không như
thật biết rõ: "Các hành là vô thường"; "Thức là vô thường", người ấy không như
thật biết rõ: "Thức là vô thường".
"Sắc là khổ", người ấy không như
thật biết rõ: "Sắc là khổ"; "Thọ là khổ"... "Tưởng là khổ"... "Các hành là
khổ"... "Thức là khổ", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là khổ".
"Sắc là vô ngã", người ấy không
như thật biết rõ: "Sắc là vô ngã"; "Thọ là vô ngã"... "Tưởng là vô ngã"... "Các
hành là vô ngã"... "Thức là vô ngã", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là
vô ngã".
"Sắc là hữu vi", người ấy không
như thật biết rõ: "Sắc là hữu vi"; "Thọ là hữu vi"... "Tưởng là hữu vi"... "Các
hành là hữu vi"; "Thức là hữu vi", người ấy không như thật biết rõ: "Thức là hữu
vi".
101. 14 vấn
đề siêu hình
Tương Ưng 3, trang 211 (Này Chư
Hiền, bậc Như Lai, Tối thượng nhân, Tối thắng nhân, bậc đã đạt được Tối thắng
quả, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra ngoài bốn trường hợp như sau:
"Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai tồn
tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn tại và không không tồn tại
sau khi chết"….
Và ở đây, này Anuràdha, ngay
trong hiện tại không tìm được một Như Lai thường còn, thường trú, thời có hợp lý
chăng khi Ông trả lời: "Này chư Hiền, vị Như Lai nào là bậc Tối thượng nhân, Tối
thắng nhân, đã đạt được quả Tối thắng, bậc Như Lai ấy được xem là đã tuyên bố ra
ngoài bốn trường hợp như sau: 'Như Lai tồn tại sau khi chết; Như Lai không tồn
tại sau khi chết; Như Lai tồn tại và không tồn tại sau khi chết; Như Lai không
tồn tại và không không tồn tại sau khi chết’ "?)
Tương Ưng 3, trang 447 (đặc biệt
đề cập đến 62 ki ến và kinh Phạm võng, có nghĩa là kinh Trường bộ có trước);
Tương Ưng 4 trang 577~623
102. Ai
thấy pháp là thấy Phật
Tương Ưng 3, trang 219 (Tỷ kheo
Vakkali bị bịnh nặng, đức Phật đến thăm và hỏi ông có gì hối hận và muốn hỏi
không. Vakkali trả lời, ông chỉ có một điều hối hận là không thấy được đức Thế
Tôn, do đó đức Phật nói về ý nghĩa này. Thôi vừa rồi, này Vakkali, có gì đáng
thấy đối với cái thân hôi hám này. Này Vakkali, ai thấy Pháp, người ấy thấy Ta.
Ai thấy Ta, người ấy thấy Pháp. Này Vakkali, đang thấy Pháp, là thấy Ta. Ðang
thấy Ta, là thấy Pháp.
103. Đức Phật xác
định thân của ngài vẫn bị hôi thối
Tương Ưng 3, trang 219. Thôi vừa
rồi, này Vakkali, có gì đáng thấy đối với cái thân hôi hám này.
104. Giáo Pháp của
Phật không phải để tranh luận
Tương Ưng 3, trang 249 (Này các
Tỷ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các
Tỷ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời.
105. Sự tồn tại của các Pháp
như bọt nước
Tương Ưng 3, trang 252~253 (Ví
như, này các Tỷ-kheo, sông Hằng này chảy mang theo đống bọt nước lớn. Có người
có mắt nhìn đống bọt nước ấy, chuyên chú, như lý quán sát. Do nhìn chuyên chú,
như lý quán sát nó, đống bọt nước ấy hiện rõ ra là trống không, hiện rõ ra là
rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có
lõi cứng trong đống bọt nước được? Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì
thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt
hay thắng, hoặc xa hay gần; vị Tỷ-kheo thấy sắc, chuyên chú, như lý quán sát
sắc. Do vị Tỷ-kheo nhìn chuyên chú, như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện rõ ra là
trống không, hiện rõ ra là rỗng không, hiện rõ ra là không có lõi cứng. Làm sao,
này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong sắc được?…Ví như, này các Tỷ-kheo, trong
tháng cuối mùa hạ, vào đúng giữa trưa đứng bóng, một ráng mặt trời rung động
hiện lên. Một người có mắt nhìn chuyên chú, như lý quán sát nó. Do người ấy nhìn
chuyên chú, như lý quán sát, nên ráng mặt trời ấy hiện rõ ra là trống không,
rỗng không, không có lõi cứng... Làm sao, này các Tỷ-kheo, lại có lõi cứng trong
ráng mặt trời được?
106. 37 phẩm trợ
đạo
Tương Ưng 3, trang 275 (Phải nói
rằng, vì vị ấy có tu tập. Có tu tập cái gì? Có tu tập Bốn niệm xứ, có tu tập Bốn
chánh cần. Có tu tập Bốn như ý túc. Có tu tập Năm căn. Có tu tập Năm lực. Có tu
tập bảy giác chi. Có tu tập con đường Thánh đạo Tám ngành.); Tương Ưng 4,
trang561~571
107.
Thế nào gọi là vô minh?
Tương Ưng 3, trang 289 ("Vô
minh, vô minh", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô
minh? Cho đến như thế nào, một người là vô minh? Ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô
văn phàm phu không biết rõ sắc, không biết rõ sắc tập khởi, không biết rõ sắc
đoạn diệt, không biết rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, không biết rõ thọ...
không biết rõ tưởng... không biết rõ các hành... không biết rõ con đường đưa đến
thức đoạn diệt.) 411 (Này Hiền giả, không biết rõ đối với khổ, không biết rõ đối
với khổ tập khởi, không biết rõ đối với khổ đoạn diệt, không biết rõ đối với con
đường đưa đến khổ đoạn diệt, này Hiền giả, đây gọi là vô minh.
108.
Vô minh là gốc của phiền não
Tương Ưng 5, trang 9~10 (Khi nào
vô minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các pháp bất thiện, thời
vô tàm, vô quý nối tiếp theo. Với kẻ bị vô minh chi phối, vô trí, này các
Tỷ-kheo, tà kiến sanh. Ðối với kẻ có tà kiến, tà tư duy sanh. Ðối với kẻ có tà
tư duy, tà ngữ sanh. Ðối với kẻ có tà ngữ, tà nghiệp sanh. Ðối với kẻ có tà
nghiệp, tà mạng sanh. Ðối với kẻ có tà mạng, tà tinh tấn sanh. Ðối với kẻ có tà
tinh tấn, tà niệm sanh. Ðối với kẻ có tà niệm, tà định sanh.
109. Thế nào
gọi là minh?
Tương Ưng 3, trang 290 ("Minh,
minh", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Bạch Thế Tôn, như thế nào là minh?
Cho đến như thế nào, một người là minh? Ở đây, này Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ
tử biết rõ sắc, biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết rõ con đường
đưa đến sắc đoạn diệt.
110. Minh là gốc của các thiện pháp
Tương Ưng 5, trang 10 (Khi nào
minh dẫn đầu, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thành tựu các thiện pháp, thời tàm và
quý nối tiếp theo. Với kẻ được minh chi phối, có trí, này các Tỷ-kheo, chánh
kiến sanh. Ðối với vị chánh kiến, chánh tư duy sanh. Ðối với vị chánh tư duy,
chánh ngữ sanh. Ðối với vị chánh ngữ, chánh nghiệp sanh. Ðối với vị chánh
nghiệp, chánh mạng sanh. Ðối với vị chánh mạng, chánh tinh tấn sanh. Ðối với vị
chánh tinh tấn, chánh niệm sanh. Ðối với vị chánh niệm, chánh định sanh.
111.
Thế nào gọi là thuyết pháp?
Tương Ưng 3, trang 291 ("Vị
thuyết pháp, vị thuyết pháp", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như
thế nào, được (gọi) là vị thuyết pháp? Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán,
ly tham, đoạn diệt đối với sắc; như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thuyết
pháp. Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc;
như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp tùy pháp. Nếu Tỷ-kheo do
nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với sắc, được giải thoát, không có chấp thủ;
như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện
tại.
112.
Thế nào gọi là chúng sanh?
Tương Ưng 3, trang 331 (Chúng
sanh, chúng sanh", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch
Thế Tôn, được gọi là chúng sanh? Này Ràdha, dục nào (chanda), tham nào, hỷ nào,
khát ái nào đối với sắc, triền phược ở đấy, triền miên ở đấy, do vậy gọi là
sattà (chúng sanh).
113. Thế
nào gọi là A la hán?
Tương Ưng 3, trang 337 (Này
Ràdha, khi nào Tỷ-kheo sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị
ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của năm thủ uẩn này, vị ấy được giải thoát,
không có chấp thủ; như vậy, gọi vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu
hoặc, đã thành tựu Phạm hạnh, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng
xuống, đã đạt được mục đích, đã đoạn tận hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh
trí.
114.
Thế nào gọi là chánh niệm?
Tương Ưng 4, trang 341 (này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống
quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm
thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
115. Thế
nào gọi là tỉnh giác?
Tương Ưng 4, trang 341 (như thế
nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi
đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác;
khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều
tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều
tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy,
này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
116. Tứ Thiền
Tương Ưng 3, trang 382~384 (Ở
đây, này Hiền giả, ly dục, ly pháp bất thiện, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Này Hiền giả, tôi
không khởi lên ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi đã chứng
nhập Thiền thứ nhất", hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ nhất".
Ở đây, này Hiền giả, làm cho
lắng dịu tầm và tứ, tôi đã chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhứt tâm. Tôi không có khởi lên
ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền thứ hai", hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ
hai", hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ hai".
Ở đây, này Hiền giả, ly hỷ và
trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là: "Xả niệm
lạc trú", tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ ba. Này Hiền giả, tôi không khởi lên
ý nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền thứ ba", hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ
ba", hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ ba".
Ở đây, này Hiền giả, xả lạc và
xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư,
không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Hiền giả, tôi không khởi lên ý
nghĩ: "Tôi đang chứng nhập Thiền thứ tư", hay "Tôi đã chứng nhập Thiền thứ tư",
hay "Tôi đã ra khỏi Thiền thứ tư".); Tương Ưng 4, trang 350; 355; 420~424
117. 8 định
Tương Ưng 4, trang 424~429
118. Diệt thọ
tưởng định
Tương Ưng 4, trang 355; 367 (Ở
đây, này Ananda, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn,
chứng và trú Diệt thọ tưởng định. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ananda,
còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Sự kiện này xảy ra, này Ananda. Có các du sĩ
ngoại đạo có thể hỏi như sau: "Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng định, và
tuyên bố là Diệt thọ tưởng định ấy thuộc về lạc. Ý nghĩa này là gì và như thế
nào?". Ðược nói vậy, này Ananda, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời như sau:
"Này chư Hiền, Thế Tôn không tuyên bố thuộc về lạc, dựa vào lạc thọ. Nhưng chỗ
nào, này chư Hiền, lạc được cảm thọ, chỗ ấy, Thế Tôn tuyên bố cảm thọ thuộc vào
lạc thọ".) ;
Tương Ưng 4, trang 461~463 (Bạch
Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng
định, giữa những người này có những sai khác gì? Ðối với người đã chết, đã mệnh
chung, này Gia chủ, thân hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu hành
được đoạn diệt, được khinh an; ý hành được đoạn diệt, được khinh an, thọ mạng
được đoạn tận; sức nóng được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại. Còn Tỷ-kheo đã chứng
đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân hành được đoạn diệt, khinh an; khẩu
hành được đoạn diệt, khinh an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không
bị đoạn tận; sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được trong sáng. Này Gia chủ,
người đã chết, đã mệnh chung và Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa
những người này có những sai khác như vậy.
119. Quán Vô ngã
Tương Ưng 4, trang 9~11 (Mắt,
này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã.
Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải
của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"…Thấy vậy,
này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với
tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm
chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong
sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh
đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm &