Sách

Những
vấn đề cốt lõi trong
Kinh
Tăng Chi
Biên soạn: Thích Hạnh Bình
Mục lục
1.
Đức Phật
2.
Bốn hiện tượng khác lạ khi sanh đức Phật
3.
Đức Phật là con người từ vị trí con người mà thành
Phật
4.
Quan điểm và chủ trương của Đức Phật
5.
Sự kiện trước khi Phật nhập niết bàn tại Kusinàrà
6.
Tiếng rống con sư tử
7.
A La Hán
8.
Những lý do khiến vua Pasenadi nước Kosalà tôn kính
đức Thế Tôn
9.
Sự nguy hiểm của người tư duy không chơn chánh
10.
Sự lợi ích của người tư duy chân chánh
11.
Pháp và phi pháp
12.
Tu tập chỉ là sự lựa chọn cách suy tư hợp lý
13.
Điên đảo tưởng
14.
Chánh kiến
15.
Tà kiến
16.
Quán 5 uẩn
17.
Quán tâm
18.
Không như lý tác ý
19.
Như lý tác ý
20.
Sự cách xa giữa người thiện và kẻ ác
21.
Không thể có hai vị Phật xuất hiện cùng một lúc
22.
Đề Bà Đạt Đa
23.
Phá hòa họp tăng
24.
Không thể có một người có chánh kiến tạo 5 tội ngũ
nghịch
25.
Không thể cùng một đất nước có hai vị Chuyển Luân
Thánh Vương
26.
Không thể có người nữ làm chuyển luân thánh vương
27. Đối với nữ sắc
28. Lời khuyên của đức Phật về người nữ trước khi đi lấy chồng ở xã hội phong
kiến
29. Những đệ tử xuất sắc của đức Phật
30. Tán thán hạnh sống trong rừng núi
31. Vấn đề tranh
tụng
32.
Người ngu
33.
Người trí
34. Vô Minh là ngyên nhân của đau khổ
35.
Hạng người xuyên tạc Như Lai
36. Quan điểm của Phật đối với vấn đề ân nghĩa cha mẹ
37. Vấn
đề giải thích kinh điển
38. Bốn Nguyên nhân làm cho giáo pháp bị hỗn loạn
39. Lấy Kinh luật làm tiêu chuẩn cho lời dạy đức Phật
40. Cần hiểu rõ ý nghĩa của Kinh điển
41. A Tỳ đàm
42. Những nguyên nhân làm cho tài sản hưng thịnh
43. Có 5 yếu do để người Phật tử gây dựng tài sản
44. Sự khác biệt giữa hai hội chúng: Tôn trọng tài vật và không tôn trọng tài
vật
45. Quan điểm của Phật đối với vấn đề tài vật
46. Giới luật và mục đích chế giới và luật
47. Hộ trì các căn
48. Tiết độ
trong ăn uống
49. Hạnh kham nhẫn
50. Chánh Niệm
51. Nguyên tắc cho Tỷ kheo để cho mọi người kính mến
52. Sự nguy hiểm của sự kính mếm đối với một vị Tỷ kheo
53. Xuất hiện cách lập luận của Phật giáo Đại thừa
54. Giới luật
55. Nguyên tắc để hình thành giới luật
56. Khi Tỷ
kheo đã phạm tội
57. 5 điều kiện khiến Tỷ kheo đọa lạc
58.
Nguyên tắt cử tội người khác
59. Xuất gia không vì mục đích giải thoát
60. 5 nghề nghiệp một người Phật tử không được làm
61. Vấn đề xây
dựng tháp
62. Vấn đề
sống trong rừng
63. Vấn đề ăn
bình bát
64. Chú tâm cảnh
giác
65. Người thân cận cúng dường và người không thân cận cúng dường
66. Nghiệp
67. Thế nào gọi là nghiệp thiện và nghiệp bất thiện
68. Căn bản bất thiện và căn bản thiện
69. Sáu sanh loại theo ngoại đạo pùrana Kassapa
70. Mỗi người đều có mục đích và ý muốn khác nhau
71. 6 phương pháp đoạn trừ các lậu hoặc
72. Thiết thực
hiện tại
73. Vấn đề Bố thí
74. Động cơ Bố thí
75. Lợi ích
của sự bố thí
76. Bố thí đúng
pháp
77.
Đề cao bố thí vàng bạc châu báu
78. Vấn đề tế lễ
79. 3 loại thần
thông
80. Đức Phật phân tích và phê phán những các học thuyết về nghiệp và nhân quả
của ngoại đạo
81. Người dân Kàlàmà hỏi Thế Tôn về vấn đề chân lý
82. Người có khả năng thảo luận hay không có khả năng thảo luận
83. 3 loại trai giới
84. Không phóng dật
85. Phi Phạm hạnh (Nói về đam mê nữ sắc )
86. Tu tập như
giây đàn
87. Trong Tăng Chi chỉ đề cập đến 4 giới
88. Vấn
đề toàn tri toàn kiến
89. Đức Phật không phải là người toàn tri Ngài biết những gì cần biết
90.
16 nước trong thời đại đức Phật
91.
Giới định tuệ
92.
Kinh nghiệm tu tập của Phật
93.
Quá trình chúng ngộ tứ thiền
94. Chân
lý
95. Chủ
trương của phái lõa thể
96. Thuận
dòng và nghịch dòng
97. 9
phần giáo
98. 4 ách
99. Thế
nào gọi là Trưởng lão
100. Không
phải phạm hạnh
101. Tri
túc
102. 4 Vô Lượng Tâm
103. Đề
Bà Đạt Đa (Devadatta)
104.
Những ước mơ của con người
105. Thế nào là bậc chân nhân (người tốt) và không phải bậc chân nhân
106.
Viễn ly
107. 4 hạng
người ở đời
108. Tôn giả Ananda người được chúng tăng ưa thích nhất là Tỷ kheo ni
109.
Hào Quang
110. Họp thời làm việc
111. Người ngu không thể biết người trí, nhưng ngừơi trí biết người ngu
112.
Có 4 loại chứng ngộ khác nhau
113. Quan điểm của Phật đối với lòng tin
114. Không có sự sai khác giữa các vị A la hán
115. Vấn đề
tranh tụng
116. Do
ái cho nên có đấu tranh
117. Vấn đề loạn luân trong giới xuất gia
118. Lời khuyên của đức Phật đối với vấn đề đam mê sắc dục
119. Giải thích các danh từ chuyên môn Phật học
120. Thái độ của đức Phật đối với vấn đề Đề Bà Đạt Đa muốn lãnh đạo Tăng đoàn
121. Thái độ học
pháp
122. Những vấn đề liên quan đến Diệt thọ tưởng định
123. Sự diệt biệt giữa quan niệm của đức Phật và ngoại đạo về Bà la môn
124. Không thể lấy trí của kẻ phàm phu để hiểu về đức Phật
125. 4 giai cấp đều có thể xuất gia
126. Lời
nói
127. Tỷ kheo đến nhà người cư sĩ phải nhằm mục đích giáo dục
128. Những nguyên nhân làm cho chánh pháp sớm tiêu diệt
129. Sự nguy hai của đời sống cố định của Tỷ kheo
130. Sự nguy hiểm của sự liên hệ đến gia đình Phật tử
131.
Tạo nghiệp
132. Không phải tự mình làm không phải người khác làm
133. 3 hữu
134. 3 học
135. 3 Ái
136. Bốn Nhiếp pháp
137. 5 hạ phần
kiết sử
138. 5
thượng phần kiết sử
139.
7 Tùy miên
140. 7 điều kiện để cho đất nước được ổn định chính trị
141. 7 điều kiện để cho tăng đoàn được phát triển
142.
Chức năng của lòng tàm quí
143. Hiểu biết là điều kiện căn bản cho sự tu tập
144. Câu chuyện A Nan xin Phật cho người nữ xuất gia với điều kiện Tỷ kheo ni
phải tuân hành bát kính pháp
145. Điều kiện cho một tỷ kheo có thể giáo giới cho Tỳ kheo ni
146. A Nan không thỉnh đức Phật trụ thêm ở thế gian
147. 8 nguyên nhân làm cho quả đất rung động
148. cần phải quan sát trước khi thân cận
149.
Tỷ kheo vu khống Xá lợi Phất
150.
Vấn đề dư y
151. 8 giới
152.
Xuất hiện tư tưởng tiền thân
153.
Tăng đoàn sống trong xã hội
154. Cần phải xác định mục đích của việc tu tập
155. Tìm cầu lõi cây
156.
Vấn đề cúng cho người chết
157.Quan điểm của Phật về vị trưởng lão
Nội dung
1.
Đức Phật
Tăng chi 1, trang 46 (Một
người, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho
đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Một người ấy là ai? Chính là Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính một người này, này các Tỷ-kheo, khi xuất hiện ở
đời, sự xuất hiện đem lại hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
2. Bốn hiện tượng khác lạ
khi sanh đức Phật
Tăng chi 2, trang 61~64 (Này
các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán, xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng
có xuất hiện. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, khi Bồ-tát từ bỏ thân ở cõi trời
Ðâu-suất, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy, một hào quang vô
lượng, thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm
có thế giới của chư Thiên, thế giới Ma vương và Phạm thiên, quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Cho đến những thế giới ở chặng giữa bất
hạnh, không có nền tảng, tối tăm u ám, tại đấy, mặt trăng, mặt trời với đại thần
lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu ánh sáng. Trong những cảnh
giới ấy, một hào quang vô lượng, thâm diệu thắng xa uy lực chư Thiên hiện ra. Và
các chúng sanh, sanh tại đấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói: "Cũng có
những chúng sanh khác sống ở đây". Này các Tỷ-kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng thứ nhất có xuất hiện.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi Bồ-tát chánh niệm tỉnh
giác, từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy, một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa
oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có thế giới của chư Thiên…
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai chứng ngộ được
vô thượng Chánh Ðẳng Giác, khi ấy trong thế giới chư Thiên ...
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi Như Lai chuyển bánh xe
pháp vô thượng, khi ấy trong thế giới chư Thiên.. (như trên)...
3. Đức Phật
là con người từ vị trí con người mà thành Phật
Tăng Chi 1, trang 621~623
(Rồi Thế Tôn từ trên đường bước xuống, đến ngồi dưới
một gốc cây, ngồi kiết-già, thân thẳng, đặt niệm trước mặt. Bà-la-môn Dona theo
dấu chân của Thế Tôn, thấy Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây đẹp đẽ, khởi lên
tịnh tín, các căn tịch tịnh, tâm ý tịch tịnh, đạt được tịnh chỉ do điều phục tối
thượng, giống như một con voi được điều phục, được phòng hộ với căn tịch tịnh,
thấy vậy Bà-la-môn Dona liền đi đến Thế Tôn; sau khi đến, thưa với Thế Tôn:
Có phải thưa Tôn giả, Ngài sẽ là vị tiên?
Hỡi này Bà-la-môn, Ta sẽ không là tiên.
Có phải thưa Tôn giả, Ngài sẽ là Thát-bà?
Hỡi này Bà-la-môn, Ta sẽ không Thát-bà,
Có phải thưa Tôn giả, Ngài sẽ là Dạ-xoa?
Hỡi này Bà-la-môn, Ta sẽ không Dạ-xoa.
Có phải thưa Tôn giả, Ngài sẽ là loài Người?
Hỡi này Bà-la-môn, Ta sẽ không là Người.
Hỏi "Ngài có phải sẽ là tiên không?", Ngài trả lời:
"Này Bà-la-môn, Ta sẽ không phải là tiên". Hỏi "ngài có phải sẽ là Càn-thát-bà
không?", Ngài trả lời: "Này Bà-la-môn, Ta sẽ không phải là Càn-thát-bà". Hỏi
"Ngài có phải sẽ là Dạ-xoa không?" Ngài trả lời: "Này Bà-la-môn, Ta sẽ không
phải là Dạ-xoa". hỏi "Ngài có phải sẽ là loài Người không?", Ngài trả lời: "Ta
sẽ không phải loài Người". Vậy sở hành của Ngài là gì và Tôn giả sẽ là gì?
Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các
lậu hoặc, Ta có thể là chư Thiên, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ
gốc rễ, được làm thành như thân cây ta-la, được làm cho không thể hiện hữu, được
làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những người
chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn-thát-bà, Ta có thể là Dạ-xoa, Ta có
thể là Người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt dứt từ gốc rễ, được làm
thành như thân cây ta-la, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không
thể sanh khởi trong tương lai. Ví như, này Bà-la-môn, bông sen xanh, hay bông
sen hồng, hay bông sen trắng, sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên
khỏi nước, và đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà-la-môn sanh ta
trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này
Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì.
4. Đức Phật
thừa nhận mình có những chủ trương như sau
Tăng Chi 3, trang 520~523
(…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama thật thiếu ý vị ". Này Bà-la-môn, các sắc vị, thanh vị, hương vị,
vị vị, xúc vị, các vị ấy, Như Lai đã đoạn tận chúng, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho
như thân cây tàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong
tương lai
….ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama thiếu tài sản ".Này Bà-la-môn, các sắc tài sản, thanh tài sản,
hương tài sản, vị tài sản, xúc tài sản, các tài sản ấy, Như Lai đã đoạn tận
chúng, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây tala, làm cho không thể tái
sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai.…
…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama chủ trương thuyết không hành động". Này Bà-la-môn, ta nói không
hành động về thân làm ác, về lời nói ác, về ý nghĩ ác. Ta nói không hành động về
các pháp ác, bất thiện….
…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama chủ trương thuyết đoạn diệt ". Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố đoạn
diệt tham, sân, si. Ta tuyên bố đoạn diệt các ác, bất thiện pháp…
…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama là người nhàm chán". Này Bà-la-môn, Ta nhàm chán thân làm ác,
miệng nói ác, ý nghĩ ác. Ta nhàm chán sự thành tựu các pháp ác, bất thiện….
…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama là người chủ trương hư vô". Này Bà-la-môn, Ta thuyết pháp để hư
vô tham, sân, si. Ta thuyết pháp để hư vô các pháp ác, bất thiện….
…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama là người khổ hạnh ". Này Bà-la-môn, Ta tuyên bố rằng cần phải khổ
hạnh các pháp ác, bất thiện, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Này
Bà-la-môn, với ai, các pháp ác, bất thiện, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác
được tu khổ hạnh, được đoạn tận, được cắt đứt từ gốc rễ, được làm cho như thân
cây tala, được làm cho không thể tái sanh, được làm cho không thể sanh khởi
trong tương lai, Ta tuyên bố rằng người ấy là người khổ hạnh….
…ai nói về ta một cách chơn chánh có thể nói như sau:
"Sa-môn Gotama chủ trương không nhập thai". Này Bà-la-môn, với ai mà khả năng
nhập thai tái sanh trong tương lai đã đoạn tận, chặt đứt từ gốc rễ, làm cho như
thân cây tala, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong
tương lai, Ta tuyên bố rằng người ấy chủ trương không nhập thai. Này Bà-la-môn,
Như Lai đã đoạn tận khả năng nhập thai tái sanh trong tương lai đã đoạn tận, đã
chặt đứt từ gốc rễ, đã làm cho như thân cây tala, đã làm cho không thể tái sanh,
đã làm cho không thể sanh khởi trong tương lai….
5. Sự kiện trước
khi Phật nhập niết bàn tại Kusinàrà
Tăng Chi 1, trang 704~705 (Một
thời Thế Tôn trú ở Kusinàrà, tại Upavattana, trong rừng cây Sàla của dân chúng
Mallà, giữa những cây Sàla song thọ, trong khi Ngài sắp sửa nhập Niết-bàn. Tại
đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo nào nghi ngờ
hay phân vân gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành, thời
này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy hỏi đi, sau chớ có hối tiếc: "Bậc Ðạo Sư có mặt
trước chúng ta, mà chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn." Khi được nói vậy, các
Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
Lần thứ hai, Thế Tôn... Lần thứ ba, Thế Tôn nói với
các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì về
Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành, thời này các Tỷ-kheo, các
Thầy hãy hỏi đi, về sau chớ có hối tiếc: "Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta, mà
chúng ta không tận mặt hỏi Thế Tôn." Lần thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo: Này các Tỷ-kheo, nếu
có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo Sư mà không hỏi, thời, này các Tỷ-kheo,
giữa bạn đồng tu, hãy hỏi nhau. Khi được nói vậy, những Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.)
Rồi Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, thật kỳ
diệu thay! Bạch Thế Tôn, thật hy hữu thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng, trong
chúng Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với
Phật, Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành. Này Ananda, Thầy có lòng
tín thành nên nói vậy. Nhưng ở đây, này Ananda Như Lai biết rằng trong chúng
Tỷ-kheo này, không có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật,
Pháp, chúng Tăng, Ðạo hay con đường thực hành. Này Ananda, trong 500 Tỷ-kheo
này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả Dự lưu, không còn bị thối đọa, chắc
chắn hướng đến Chánh Giác.
6.
Tiếng rống con sư tử
Tăng Chi 3, trang 221~226 (Này các Tỷ-kheo,
có sáu Như Lai lực của Như Lai, do thành tựu các lực này, Như Lai tự nhận cho
mình địa vị ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển
bánh xe pháp. Thế nào là sáu?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết
xứ là xứ, phi xứ là phi xứ.
Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết xứ là xứ, phi xứ là phi xứ, như vậy là
Như Lai lực của Như Lai. Chính nhờ Như Lai lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa
vị ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng, chuyển bánh xe
pháp.
Lại nữa, này các Tỷ kheo, Như Lai như thật rõ biết quả
báo tùy thuộc sở do, tùy thuộc sở nhân của các thọ nghiệp quá khứ, vị lai, hiện
tại. Này các Tỷ kheo , Như Lai như thật rõ biết quả báo tùy thuộc sở do, tùy
theo sở nhân của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, như vậy là Như Lai
lực của Như Lai.... chuyển bánh xe pháp.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật rõ biết sự
tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của những thành đạt về Thiền, về giải
thoát, về định. Này các Tỷ-kheo, Như Lai như thật biết... và chuyển bánh xe
pháp….
7. A La Hán
Tăng Chi 3, trang 228 (Do không đoạn tận
sáu pháp, này Tỷ-kheo, không có thể chứng được quả A-la-hán. Thế nào là sáu? Hôn
trầm, thụy miên, trạo cử, hối quá, bất tín, phóng dật. Này các Tỷ-kheo, do không
đoạn tận sáu pháp này, không có thể chứng được quả A-la-hán. );
Tăng Chi 3, trang 241 (Không đoạn tận sáu
pháp, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng ngộ quả A-la-hán. Thế nào là sáu? Mạn,
ty mạn, quá mạn, tăng thượng mạn, cố chấp, ty liệt mạn. Không đoạn tận sáu pháp
này, này các Tỷ-kheo, không có thể chứng ngộ quả A-la-hán.
Ðoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng
ngộ quả A-la-hán. Thế nào là sáu? Mạn, ty mạn, quá mạn, tăng thượng mạn, cố
chấp, ty liệt mạn. Ðoạn tận sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, có thể chứng ngộ quả
A-la-hán. ); Tăng Chi 3, trang 247 (Thành tựu sáu pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
có thể chứng ngộ pháp tối thượng A-la-hán. Thế nào là sáu? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có lòng tin, có lòng xấu hổ, có lòng sợ hãi, tinh cần tinh tấn,
có trí tuệ, thân và mạng không có ước vọng
8.
Những lý do mà vua Pasenadi nước Kosalà tôn kình đức Thế Tôn
Tăng Chi 4, trang 327~332
1.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của ông Anàthapindika.
Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala, từ một trận chiến trở về, thắng trận, mục
đích đã đạt được. Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến khu vườn. Xa cho đến đất
có thể đi xe được, vua đi xe, rồi xuống xe đi bộ và vào khu vườn.
2.
Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo đang đi kinh hành ngoài trời. Rồi vua Pasenadi
nước Kosala đi đến các Tỷ-kheo ấy, sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo:
-
Thưa các Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trú ở đâu? Thưa các
Tôn giả, chúng tôi muốn yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Tâu
Ðại vương, đây là ngôi tịnh xá, có cửa đóng. Ngài hãy đi đến ngôi nhà ấy, đừng
có tiếng động, đừng có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ nơi then
cửa. Thế Tôn sẽ mở cửa cho Đại vương.
Rồi
vua Pasenadi nước Kosalà, đi đến ngôi tịnh xá cửa đóng ấy, đi đến không có tiếng
động, không có hấp tấp, bước vào mái hiên, đằng hắng, rồi gõ vào then cửa. Thế
Tôn mở cửa. Rồi vua Pasenadi, nước Kosalàđi đi vào tịnh xá, đầu cúi rạp xuống
trước chân Thế Tôn, miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay xoa bóp, và nói lên tên
mình:
-
Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi nước Kosalà. Bạch Thế Tôn, con là vua Pasenadi
nước Kosalà.
-
Thưa Ðại vương, do Ðại vương thấy ý nghĩa lợi ích gì mà Ðại vương lại làm những
cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ lộ lòng kính mộ đối với cái thân này?
4.
Bạch Thế Tôn, để nêu rõ lòng biết ơn của con, để nói lên lòng cảm tạ của con đối
với Thế Tôn, mà con làm những cử chỉ hạ liệt quá mức như vậy và tỏ bày lòng từ
ái đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đã thực hiện hạnh phúc cho đa
số, an lạc cho đa số, là vị đã an lập Thánh chánh lý cho đa số, tức là chánh
chơn pháp tánh, thiện pháp tánh. Bạch Thế Tôn, vì Thế Tôn là vị đã thực hiện
hạnh phúc cho đa số, an lạc cho đa số, tức là chánh chơn pháp tánh, thiện pháp
tánh; vì con thấy ý nghĩa lợi ích này nên con đã làm những cử chỉ hạ liệt quá
mức như vậy, và tỏ bày lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
5.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn có giới, có Phật giới, có Thánh giới, có thiện
giới, có đầy đủ thiện giới. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn có giới, có Phật giới,
có Thánh giới, có thiện giới, có đầy đủ thiện giới; bạch Thế Tôn, vì con thấy ý
nghĩa lợi ích này, mà con đã làm những cử hạ liệt quá mức như vậy và bày tỏ lòng
kính mộ đối với Thế Tôn.
6.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú
xứ rừng núi, các vùng cao nguyên hẻo lánh xa vắng. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn
đã lâu ngày là vị sống ở rừng, sống tại các trú xứ rừng núi, các vùng cao nguyên
hẻo lánh xa vắng; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
7.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào được cúng
dường, như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh. Bạch Thế Tôn, vì
rằng Thế Tôn là vị biết đủ với bất cứ vật dụng nào cúng dường, như y áo, đồ ăn
khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính
mộ đối với Thế Tôn.
8.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng,
đáng được cúng dường, đáng được chắp tay là phước điền vô thượng ở đời. Vì rằng,
bạch Thế Tôn, Thế Tôn là vị đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được
cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời; bạch Thế Tôn, vì
con thấy... lòng kính mộ với Thế Tôn.
9.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, những câu chuyện nào thuộc hướng thượng, khai mở tâm trí,
ví như câu chuyện về ít dục, câu chuyện biết đủ, câu chuyện về viễn ly, câu
chuyện về không tụ hội, câu chuyện về tinh cần tinh tấn, câu chuyện về giới, câu
chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải
thoát tri kiến, các câu chuyện như vậy, Thế Tôn có được không khó khăn, có được
không mệt nhọc, có được không phí sức. Vì rằng, bạch Thế Tôn, những câu chuyện
nào thuộc hướng thượng... có được không phí sức; bạch Thế Tôn, vì con thấy...
lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
10.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện
tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có được không phí
sức. Vì rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn đối với bốn Thiền... có được không phí sức;
bạch Thế Tôn, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
11.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn tùy niệm nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai
đời... nhớ lại nhiều đời với các nét đại cương và các chi tiết. Vì rằng, bạch
Thế Tôn, Thế Tôn nhớ lại nhiều đời quá khứ, như một đời, hai đời... nhớ lại
nhiều đời sống với các nét đại cương và các chi tiết; bạch Thế Tôn, vì con
thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
12.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân...đều do hạnh
nghiệp của họ. Bạch Thế Tôn, vì rằng Thế Tôn với thiên thanh nhãn tịnh siêu
nhân, vì con thấy... lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
13.
Lại nữa, bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự
mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ
giải thoát. Vì rằng bạch Thế Tôn, Thế Tôn do đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong
hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải
thoát, tuệ giải thoát; vì con thấy ý nghĩa lợi ích này nên con đã làm những cử
chỉ hạ liệt quá mức như vậy, và tỏ lòng kính mộ đối với Thế Tôn.
9. Sự nguy hiểm của
người tư duy không chơn chánh
Tăng chi 1, trang 39 (Những
Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, nêu rõ phi pháp là pháp, sở hành của những vị ấy,
này các Tỷ-kheo, đem lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa
số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Và hơn nữa, này các
Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều vô phước, và khiến cho diệu pháp biến mất.
10. Sự lợi ích của người tư
duy chân chánh
Tăng Chi 1, trang 39 (Những
Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, nêu rõ pháp là phi pháp, sở hành của những vị ấy,
này các Tỷ-kheo, đem lại bất hạnh cho đa số, bất lạc cho đa số, bất lợi cho đa
số, đưa đến bất hạnh, đau khổ cho chư Thiện và loài Người. Và hơn nữa, này các
Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều vô phước, và khiến cho diệu pháp biến mất.
11. Pháp và phi pháp
Tăng chi 1, trang 36~45;
40 (Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, nêu rõ phi
luật là luật,... nêu rõ luật là phi luật,... Như Lai không nói lên, tuyên bố là
Như Lai có nói lên, ... Như Lai có nói lên, tuyên bố là Như Lai không nói lên,
... Như Lai không thực hành, tuyên bố là Như Lai có thực hành,... Như Lai thực
hành, tuyên bố là Như Lai không thực hành,... Như Lai không chế đặt, tuyên bố là
Như Lai có chế đặt... Như Lai có chế đặt, tuyên bố là Như Lai không chế đặt...
Sở hành của những vị ấy, này các Tỷ-kheo, đem lại bất hạnh cho đa số, bất lạc
cho đa số, bất lợi cho đa số, đưa đến bất hạnh đau khổ cho chư Thiện và loài
Người. Và hơn nữa, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo ấy tạo điều vô phước, và khiến
cho diệu pháp biến mất.
12. Tu tập chỉ là lựa
chọn cách suy tư hợp lý
Tăng Chi 1, trang 618 (Thật
vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! thật hy hữu thay, thưa Tôn giả Gotama! Cho
đến như vậy, Tôn giả Gotama đã khéo nói. Chúng con thọ trì rằng Tôn giả Gotama
đã thành tựu bốn pháp này, Tôn giả Gotama đã thực hành, hướng đến hạnh phúc cho
nhiều người, hướng đến an lạc cho nhiều người, đã an lập nhiều người trên Thánh
lý, tức là hiền thiện pháp tánh, thiện pháp tánh. Tôn giả Gotama là vị, với tầm
tư nào, vị ấy nghĩ cần phải tầm tư, vị ấy tầm tư tầm tư ấy; với tầm tư nào, vị
ấy nghĩ không cần phải tầm tư, vị ấy không tầm tư tầm tư ấy; với tư duy nào, vị
ấy nghĩ cần phải tư duy, vị ấy tư duy tư duy ấy; với tư duy nào, vị ấy nghĩ
không cần phải tư duy, vị ấy không tư duy tư duy ấy. Tôn giả Gotama đạt được tâm
tự tại trong các đường hướng tầm tư, Tôn giả Gotama đối với bốn Thiền, thuộc
tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt
nhọc, có được không phí sức. Tôn giả Gotama, do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay
trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm
giải thoát, tuệ giải thoát.
13. Điên đảo tưởng
Tăng Chi 1, trang 650~651 (Trong
vô thường, nghĩ là thường, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo,
kiến điên đảo. Trong khổ nghĩ là không khổ, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên
đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong vô ngã, nghĩ là ngã, này các Tỷ-kheo, đó
là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo. Trong không thanh tịnh, nghĩ là
thanh tịnh, này các Tỷ-kheo, đó là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo.
14. Chánh kiến
Tăng Chi 1, trang 66~67 (Ta
không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa
sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại,
này các Tỷ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỷ-kheo, các
pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng
trưởng, quảng đại…. Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp
ấy, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh
bị đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các
Tỷ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã
sanh bị đoạn diệt.)
Tăng Chi 4, trang 562~563 (Khi mặt trời mọc,
này các Tỷ-kheo, cái này đi trước, cái này là tướng báo trước, tức là rạng đông.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đối với các thiện pháp, cái này là đi trước, cái này
là tướng trước, tức là chánh tri kiến. Từ chánh tri kiến, này các Tỷ-kheo, có
chánh tư duy. Từ chánh tư duy, có chánh ngữ. Từ chánh ngữ, có chánh nghiệp. Từ
chánh nghiệp, có chánh mạng. Từ chánh mạng, có chánh tinh tấn. Từ chánh tinh
tấn, có chánh niệm. Từ chánh niệm, có chánh định. Từ chánh định, có chánh trí.
Từ chánh trí, có chánh giải thoát.)
15. Tà kiến
Tăng Chi 1, trang 66~67 (Ta
không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện
chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng,
quảng đại, này các Tỷ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo,
các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi
đến tăng trưởng, quảng đại…Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do
pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị
đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỷ-kheo,
các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn
diệt..
16. Quán 5 uẩn
Tăng Chi 3, trang 10 (Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không có ưa thích, không có ghét
bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác; khi tai nghe tiếng... khi mũi ngửi hương...
khi lưỡi nếm vị... khi thân cảm xúc... khi ý biết pháp, không có ưa thích, không
có ghét bỏ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác.
17. Quán tâm
Tăng Chi 3, trang 325 (Thành
tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không bao lâu, với thắng trí tự mình
chứng ngộ, chứng đạt và an trú bốn vô ngại giải. Thế nào là bảy? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi nào tâm thụ động, như thật rõ biết: "Ðây là tâm ta thụ
động"; khi nào tâm muội lược, như thật rõ biết: "Nội tâm ta muội lược"; khi nào
tâm tán loạn, hướng ngoại". Như thật rõ biết tâm ta tán loạn hướng ngoại. Vị ấy
nhận thức được các thọ khởi lên, nhận thức được các thọ an trú, nhận thức được
các thọ đi đến tiêu diệt; nhận thức được các tưởng khởi lên, nhận thức được các
tưởng an trú, nhận thức được các tưởng tiêu diệt; nhận thức được các tầm khởi
lên, nhận thức được các tầm an trú, nhận thức được các tầm tiêu diệt. Ðối với
các pháp thích hợp hay không thích hợp, đối với các pháp hạ liệt hay thù thắng,
đối với các pháp dự phần đen hay dự phần trắng, vị ấy khéo nắm giữ tướng, khéo
tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập với trí tuệ.
18. Không như
lý tác ý
Tăng Chi 1, trang 67 (Ta
không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, tà kiến chưa sanh
được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh đi đến tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, như
không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, tà kiến chưa sanh
được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh được tăng trưởng.
19. Như lý tác ý
Tăng Chi 1, trang 57 (Ta
không thấy một pháp nào khác, này các Tỷ-kheo, do pháp ấy, chánh kiến chưa sanh
được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỷ-kheo, như
như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỷ-kheo, chánh kiến chưa sanh được sanh
khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng.)
Tăng Chi 1, trang 184~185 (Thành tựu với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người ngu
được biết đến. Thế nào là ba? Không như lý suy tư, đặt câu hỏi; không như lý suy
tư, trả lời câu hỏi; khi người khác như lý trả lời câu hỏi với những câu, những
chữ vuông tròn, với những hành văn trơn tru chải chuốt, không có chấp nhận.
Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến. Thành tựu
với ba pháp, này các Tỷ-kheo, người hiền trí được biết đến. Thế nào là ba? Như
lý suy tư, đặt câu hỏi; Như lý suy tư, trả lời câu hỏi; khi người khác như lý
trả lời câu hỏi với những câu, những chữ vuông tròn, với những hành văn trơn tru
chải chuốt, liền chấp nhận. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, người
hiền trí được biết đến.); 362~363.
20. Sự cách xa giữa người
thiện và kẻ ác
Tăng Chi 1, trang 647
(Trời và đất, này các Tỷ-kheo, là sự việc thứ nhứt rất xa, rất xa với nhau. Bờ
biển bên này, này các Tỷ-kheo với bờ biển bên kia, là sự việc thứ hai rất xa,
rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các Tỷ-kheo, đến chỗ mặt trời lặn
xuống, là sự việc thứ ba rất xa, rất xa với nhau. Pháp của hạng người bất thiện,
này các Tỷ-kheo, với pháp của hạng người thiện, là sự việc thứ tư rất xa, rất xa
với nhau.
21. Không thể có
hai vị Phật xuất hiện cùng một lần
Tăng Chi 1, trang 59 (Sự
kiện này không xảy ra, này các Tỷ-kheo, không có được: Trong một Thế giới, hai
vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, không trước không sau, xuất hiện một lần, sự kiện
này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các Tỷ-kheo: Trong một Thế giới,
chỉ có một vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, sự kiện này có xảy ra.
22. Đề Bà Đạt Đa
Tăng Chi 3, trang
197~209; Tăng Chi 3, trang 251 (Ðoạn mạng sống
của mẹ; đoạn mạng sống của cha; đoạn mạng sống của A-la-hán; với ác tâm làm Như
Lai chảy máu; phá hòa hiệp Tăng; ác tuệ, si mê, câm ngọngThành tựu sáu pháp này,
này các Tỷ-kheo, dầu cho có nghe diệu pháp, không có thể bước vào quyết định
tánh trong các thiện pháp..); 256;
23. Phá hòa hợp
tăng
Tăng Chi 2, trang
272~274; Tăng Chi 4, trang 338~339 (Phá hòa hợp
tăng, phá hòa hợp tăng, bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào,
bạch Thế Tôn là phá hòa hợp Tăng? Ở đây, này Upáli, các Tỷ-kheo thuyết phi pháp
là pháp; thuyết pháp là phi pháp; thuyết phi luật là luật; thuyết luật là phi
luật; thuyết điều Như Lai không nói, không thuyết, là điều Như Lai nói, Như Lai
thuyết; thuyết điều Như Lai có nói, có thuyết, là điều Như Lai không nói, không
thuyết; thuyết điều Như Lai thường không sở hành là điều Như Lai thường sở hành;
thuyết điều Như Lai thường sở hành là điều Như Lai không thường sở hành; thuyết
điều Như Lai không chế đặt là điều Như Lai chế đặt; thuyết điều Như Lai có chế
đặt là điều Như Lai không có chế đặt.
24.
Không thể có một người có chánh kiến tạo 5 tội ngũ nghịch
Tăng Chi 1, trang 59 (Sự
kiện này không xảy ra, này các Tỷ-kheo, không có được: Một người thành tựu chánh
kiến có thể đoạt mạng sống của mẹ... của cha... của vị A-la-hán... có thể với ác
tâm làm bậc Như Lai chảy máu...có thể phá hòa hợp Tăng... có thể tuyên bố một vị
Ðạo Sư khác, sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện này có xảy ra, này các
Tỷ-kheo, kẻ phàm phu có thể đoạt mạng sống của mẹ... có thể tuyên bố một vị Ðạo
Sư khác, Sự kiện này có xảy ra.);
Tăng Chi 2, trang 546~547
(Có năm nghịch tội này, này các Tỷ-kheo, đưa đến đọa
xứ, đưa đến địa ngục, không có thể chữa trị. Thế nào là năm? Ðoạt mạng mẹ, đoạt
mạng cha, đoạt mạng vị A-la-hán, với ác tâm làm Như Lai chảy máu, phá hòa hợp
Tăng.
25.
Không thể cùng một đất nước có hai vị chuyển luân thánh vương
Tăng Chi 1, trang 60 (Sự kiện này không xảy ra,
này các Tỷ-kheo, không có được: Trong một Thế giới, có hai Chuyển Luân Vương,
không trước không sau, xuất hiện một lần, sự kiện này không xảy ra. Và sự kiện
này có xảy ra, này các Tỷ-kheo, trong một thế giới, chỉ có một Chuyển Luân Vương
xuất hiện, sự kiện này có xảy ra.
26. Không thể có
người nữ làm chuyển luân thánh vương
Tăng Chi 1, trang (60 ?)
27. Đối với nữ
sắc
Tăng chi 1, trang 9~10 (Thế Tôn
nói như sau: Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự
trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà
xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông…Ta không thấy một sắc nào khác, này các
Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Này các
Tỷ-kheo, sắc người đàn ông chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.)
Tăng chi 2, trang 209~214
(Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì,bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung
sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh
hưởng uy tín ít? Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một
số nữ nhân, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, dáng hạ liệt, nhưng giàu sang, tài sản
lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn?
Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ nhân, dung
sắc đẹp, được ưa nhìn, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng, tuy vậy nghèo
khổ, tài sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít?
Do nhân gì, bạch Thế Tôn, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số nữ
nhân, dung sắc đẹp, được ưa nhìn, tịnh tín, thành tựu với dung sắc thù thắng,
giàu sang, tài sản lớn, sở hữu lớn, uy tín ảnh hưởng lớn?
Ở đây, này Mallikà, có hạng nữ nhân phẫn nộ, não hại
nhiều, tuy bị ít nói, liền nổi nóng, nổi giận, nổi sân, sừng sộ, gây hấn, biểu
lộ phẫn nộ, sân hận, bất mãn. Người này không bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn món
ăn vật uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn
đuốc; tánh tình keo kiệt; thấy người khác được lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng,
tôn kính, đảnh lễ, cúng dường, thì ganh tỵ, tức tối, trói buộc bởi ganh tỵ.
Người ấy, sau khi từ bỏ đời này, trở lui lại trạng thái này, tại đấy, tại đấy,
tái sanh hạ liệt, dung sắc xấu, sắc đẹp xấu, hình dáng hạ liệt, nghèo khổ, tài
sản ít, sở hữu ít, ảnh hưởng uy tín ít. ……);
Tăng Chi 3, trang 555~556
(Này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với sắc;
này các Tỷ-kheo nữ nhân trói buộc nam nhân với tiếng cười; này các Tỷ-kheo, nữ
nhân trói buộc nam nhân với lời nói; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân
với lời ca; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với nước mắt; này các
Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với áo quần; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói
buộc nam nhân với vật tặng; này các Tỷ-kheo, nữ nhân trói buộc nam nhân với xúc
chạm.
28. Lời khuyên của đức Phật về người nữ trước khi đi lấy chồng ở xã hội phong
kiến
Tăng chi 2, trang 360~361 (Này
các thiếu nữ, các Con hãy học tập như sau: "Ðối với những người chồng nào, mẹ
cha cho các con, vì muốn lợi ích, vì tìm hạnh phúc, vì lòng thương tưởng, vì
lòng từ mẫn khởi lên, đối với vị ấy, chúng ta sẽ thức dậy trước, chúng ta sẽ đi
ngủ sau cùng, vui lòng nhận làm mọi công việc, xử sự đẹp lòng, lời nói dễ
thương." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.
Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như
sau: "Những ai, chồng ta kính trọng, như mẹ, cha, Sa-môn, Bà-la-môn, chúng ta sẽ
tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường và khi họ đến, chúng ta sẽ dâng hiến họ chỗ ngồi
và nước." Như vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập.
Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như
sau: "Phàm có những công nghiệp trong nhà, hoặc thuộc về len vải hay vải bông, ở
đây, chúng ta sẽ phải thông thạo, không được biếng nhác, tự tìm hiểu phương pháp
làm, vừa đủ để tự mình làm, vừa đủ để sắp đặt người làm." Như vậy, này các Thiếu
nữ, các Con cần phải học tập.
Do vậy, này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như
sau: "Trong nhà người chồng, phàm có nô tỳ nào, hay người đưa tin, hay người
công thợ, chúng ta sẽ phải biết công việc của họ với công việc đã làm; chúng ta
sẽ phải biết sự thiếu sót của họ với công việc không làm. Chúng ta sẽ biết sức
mạnh hay sức không mạnh của những người đau bệnh. Chúng ta sẽ chia các đồ ăn,
loại cứng và loại mềm, mỗi người tùy theo phần của mình". Như vậy, này các Thiếu
nữ, các Con cần phải học tập.
Do vậy,
này các Thiếu nữ, các Con cần phải học tập như sau: "Phàm có tiền bạc, lúa gạo,
bạc và vàng người chống đem về, chúng ta cần phải phòng hộ, bảo vệ chúng, và sẽ
gìn giữ để khỏi ăn trộm, ăn cắp, kẻ uống rượu, kẻ phá hoại". Như vậy, này các
Thiếu nữ, các con cần phải học tập. Thành tựu năm pháp này, này các Thiếu nữ,
người đàn bà, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên có
thân khả ái.
29. Những đệ tử xuất sắc của đức Phật
Tăng Chi 1, trãng 49~57
CÁC VỊ TỶ-KHEO
1. (Trong các đệ tử Tỷ-kheo đã lâu ngày của Ta, này các
Tỷ-kheo, tối thắng là Aĩĩa Kondanno (A-nhã Kiều-trần-như).
2. Trong các vị đại trí tuệ... tối thắng là Sàriputta.
3. Trong các vị có thần thông... tối thắng là
Mahàmoggalàna.
4. Trong các vị thuyết về hạnh đấu đà... tối thắng là
Mahàkassapa.
5. Trong các vị thiên nhãn... tối thắng là Anuruddha.
6. Trong các vị thuộc gia đình quý tộc... tối thắng là
Bhaddiva Kàligohàputta.
7. Trong các vị có âm thanh vi diệu... tối thắng là
Lakuntaka (người lùn) Bhaddiya.
8. Trong các vị rống tiếng rống con sư tử... tối thắng là
Pindila Bhàradvàja.
9. Trong các vị thuyết pháp... tối thắng là Punna
Mantàniputta.
10. Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết giảng rộng rãi
những điều được nói lên một cách vắn tắt, tối thắng là Mahàkaccàna.
CÁC VỊ TỶ-KHEO
1. (Trong các vị Tỷ-kheo của Ta có thể dùng ý hóa thân, này
các Tỷ-kheo, tối thắng là Cullapanthaka.
2. Trong các vị thiện xảo về tâm thắng tiến (không phải
vivaddha của nguyên bản), tối thắng là Cullapanthaka.
3. Trong các vị thiện xảo về tưởng thắng tiến... tối thắng
là Mahàpanthaka.
4. Trong các vị trú không có tranh luận... tối thắng là
Subhuti.
5. Trong các vị đáng được cúng dường... tối thắng là
Subhuti.
6. Trong các vị tu ở rừng... tối thắng là Revata
Khadiravaniya.
7. Trong các vị tu Thiền... tối thắng là Kankha Revata.
8. Trong các vị tinh cần tinh tấn... tối thắng là Sono
Koliviso.
9. Trong các vị khéo nói... tối thắng là Sono Kutikanna.
10. Trong các vị nhận được đồ cúng dường... tối thắng là
Sivali.
11. Trong các đệ tử Tỷ-kheo có tín thắng giải... tối thắng
là Vakkali.
CÁC VỊ TỶ-KHEO
1. (Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, ưa thích học tập, tối
thắng là Ràhula.
2. Trong các vị xuất gia vì lòng tin, tối thắng là
Ratthapàla.
3. Trong các vị đầu tiên nhận phiếu ăn cơm, tối thắng là
Kunda Dhàna.
4. Trong các vị đầy đủ biện tài, tối thắng là Vangis衮
5. Trong các vị dễ mến toàn diện, tối thắng là Upesena
Vangantaputta.
6. Trong các vị sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm, tối thắng là
Pilindavaccha.
8. Trong các vị có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bàhiva
Dàructriya.
9. Trong các vị thuyết giảng vi diệu, tối thắng là Kumara
Passapa.
10. Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta đạt được vô ngại giải,
này các Tỷ-kheo, tối thắng là Màhà-kotthita.
CÁC VỊ TỶ-KHEO
1. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, được nhẹ nhiều, này
các Tỷ-kheo, tối thắng là (nanda.
2. Trong các vị... đầy đủ ức niệm, tối thắng là nanda
3. Trong các vị... đầy đủ cử chỉ tốt đẹp tối thắng là
nanda.
4. Trong các vị... đầy đủ sự kiên trì tối thắng là nanda.
5.Trong các vị... thị giả, tối thắng là nanda.
6. Trong các vị... có đại hội chúng, tối thắng là Uruvela
Kassapa.
7. Trong các vị... làm cho các gia-đình hoan hỷ, tối thắng
là Kàludàyì.
8. Trong các vị... không có bệnh hoạn, tối thắng là Bakula.
9. Trong các vị... nhớ đến các đời sống quá khứ, tối thắng
là Sobhita.
10. Trong các vị... trí Luật, tối thắng là Upàli.
11. Trong các vị... giáo giới Tỷ-kheo-ni, tối thắng là
Nandaka.
12. Trong các vị... hộ trì các căn môn,... tối thắng là
Nanda.
13. Trong các vị... thiện xảo về họa giới,... tối thắng là
Sàgata.
14. Trong các vị... giáo giới Tỷ-kheo,... tối thắng là
Màhakappina.
15. Trong các vị... năng khởi biện tài,... tối thắng là
Ràdha.
16.Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta mang thô y, này các
Tỷ-kheo, tối thắng là Moghràjà.
NỮ ĐỆ TỬ TỶ-KHEO-NI
1. (Trong các vị nữ đệ tử Tỵ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta,
tối thắng là Màhàpàjapani.
2. Trong các vị... đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.
3. Trong các vị... đầy đủ thần thông, tối thắng là
Uppalavannà.
4. Trong các vị... trì Luật, tối thắng là Patàcàrà.
5. Trong các vị... thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà.
6. Trong các vị... tu Thiền, tối thắng là Nandà.
7. Trong các vị... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sakulà.
8. Trong các vị... thiên nhãn, tối thắng là Sakulà.
9. Trong các vị... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà
Kundalakesà.
10. Trong các vị... nhớ đến các thời quá khứ, tối thắng là
Bhaddà Kapilànà.
11.Trong các vị... đã chứng đạt đại thắng trí, tối thắng là
Bhaddà.
12. Trong các vị... mang thô y. tối thắng là Kisàgotami.
13. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta. đầy đủ tin
thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sigalàmàtà.
NAM CƯ SĨ
1. (Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo,
đã quy y đầu tiên, Trong các vị các người buôn bán Tapassu Bhallikà.
2. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta...những vị bố thí,
tối thắng là gia chủ Sudatta Anàthapinika.
3. Trong các vị đệ tử... thuyết pháp... tối thắng là Citta
Macchikassandika.
4. Trong các vị đệ tử... nhiếp phục một hội chúng nhờ Bốn
nhiếp pháp, tối thắng là Hatthaka (lavaka.
5. Trong các vị đệ tử... bố thí các món ăn thượng vị, tối
thắng là Mahànàma Sakka.
6. Trong các vị đệ tử... bố thí các món đồ khả ý... tối
thắng là gia chủ Ugga Vesàlika.
7. Trong các vị đệ tử... hộ trì Tang chúng, tối thắng là
Hatthigàmala Uggàta.
8. Trong các vị... có lòng tịnh tin bất động, tối thắng là
Sùra Ambattha.
9. Trong các vị... được dân chúng kính mến, tối thắng là
Jivaka Komàrabhacca.
10. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, nói chuyện một
cách thân mật, này các Tỷ-kheo, tối thắng là gia chủ Nakulapità.
NỮ CƯ SĨ
1. (Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo,
người đi đến quy y đầu tiên là Sujàtà Senàndìhità.
2. Trong các vị... bố thí, tối thắng là Visàkhà Migàramàtà.
3. Trong các vị... nghe nhiều, tối thắng là Khujjuttar.
4. Trong các vị... trú từ tâm... tối thắng là Sàmàvati.
5. Trong các vị... tu Thiên... tối thắng là Uttarà
Nandamàtà.
6. Trong các vị... bố thí các món ăn thượng vị... tối thắng
là Suppavàsà Kolijadhita.
7. Trong các vị... săn sóc người bệnh, tối thắng là nữ cư
sĩ Suppiyà.
8. Trong các vị... có lòng tịnh tín bất động... tối thắng
là Kàtiyànì.
9. Trong các vị... nói chuyện một cách thân mật... tối
thắng là nữ gia chủ Nakulamàtà.
10. Trong các vị nữ cư sĩ đệ tử của Ta, này các Tỷ-kheo, có
lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn tối thắng là Kàlì, nữ cư sĩ ở Kulagharikà.
30. Tán thán hạnh sống trong rừng núi
Tăng Chi 1, trang 81 (Thật
sự cái này là một trong những điều lợi, này các Tỷ-kheo, tức là sống trong rừng
... sống khất thực ... mang y phấn tảo ... chỉ mang ba y thuyết pháp ... trì
luật ... biết nhiều về sự thật ... đã lâu ngày là vị trưởng lão ... có oai nghi
nghiêm chỉnh ... có được hội chúng quy tụ ... có đại hội chúng đoanh vây, con
gia đình tốt đẹp ... diện mạo đoan chánh ... ngôn ngữ hòa nhã ... thiểu dục ...
không có bệnh hoạn.
31. Vấn đề
tranh tụng
Tăng Chi 1, trang 104~106 (Trong bất cứ tranh tụng
nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, không có tự mình
khéo quán sát lấy mình, thời tranh tụng ấy được chờ đợi là sẽ đưa đến kéo dài,
gay gắt, ác liệt, và các Tỷ-kheo sẽ sống không được an lạc. Và trong bất cứ cuộc
tranh tụng nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phạm tội và Tỷ-kheo buộc tội, có tự
mình khéo quán sát lấy mình, thời tranh tụng ấy, này các Tỷ-kheo, được chờ đợi
là không đưa đến kéo dài, gay gắt, ác liệt, và các Tỷ-kheo sẽ sống được an lạc….
32. Người ngu
Tăng Chi 1, trang 114 (Này các Tỷ-kheo, có hai
loại người ngu này. Thế nào là hai? Người có phạm tội nhưng không thấy có phạm
tội, và người không chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các
Tỷ-kheo, có hai loại người ngu này.); 156 (Này
các Tỷ-kheo, có hai loại kẻ ngu này. Thế nào là hai? Người tưởng là đúng pháp
đối với việc phi pháp, và người tưởng là phi pháp đối với việc đúng pháp. Những
người này, này các Tỷ-kheo, là hai kẻ ngu.); 157 (Trong
hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng trưởng. Trong hai hạng người
nào? Người lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người không lo lắng những
việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc tăng
trưởng.); 184 (Thành tựu với ba pháp này, này
các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến. Thế nào là ba? Phạm tội, không thấy là có
phạm tội; phạm tội sau khi thấy là có phạm tội, không như pháp sám hối; được
người khác pháp lộ có tội, không như pháp chấp nhận. Thành tựu với ba pháp này,
này các Tỷ-kheo, người ngu được biết đến.
33. Người trí
Tăng Chi 1, trang 114 (Này các Tỷ-kheo, có hai
loại người có trí. Thế nào là hai? Người có phạm tội là thấy có phạm tội, và
người chấp nhận người khác như pháp phát lộ tội của mình. Này các Tỷ-kheo, có
hai loại người có trí này); 156 (Này các Tỷ-kheo, có hai bậc hiền trí này. Thế nào là hai? Người tưởng là
phi pháp đối với việc phi pháp, và người tưởng là đúng pháp đối với việc đúng
pháp. Những người này, này các Tỷ-kheo, là hai bậc hiền trí.); 157 (Trong
hai hạng người, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc không tăng trưởng. Trong hai hạng
người nào? Người không lo lắng những việc không đáng lo lắng, và người lo lắng
những việc đáng lo lắng. Trong hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, các lậu hoặc
không tăng trưởng. ); 184 (Thành tựu với ba
pháp này, này các Tỷ-kheo, người hiền trí được biết đến. Thế nào là ba? Phạm
tội, thấy là có phạm tội; phạm tội sau khi thấy là có phạm tội, như pháp sám
hối; được người khác pháp lộ có tội, như pháp chấp nhận. Thành tựu với ba pháp
này, này các Tỷ-kheo, người hiền trí được biết đến.
34. Vô Minh là ngyên nhân của
đau khổ
Tăng Chi 1, trang 180~181 (Phàm có sự sợ hãi
nào khởi lên, này các Tỷ-kheo, tất cả sự sợ hãi ấy khơỉ lên từ người ngu, không
phải từ người hiền trí. Phàm có những nguy hiểm nào khởi lên, tất cả những nguy
hiểm ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ người hiền trí. Phàm có những tai
họa nào khởi lên, tất cả những tai họa ấy khởi lên từ người ngu, không phải từ
người hiền trí.
35. Hạng người xuyên tạc Như Lai
Tăng Chi 1, trang 114~115 (Này các Tỷ-kheo, có
hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy
sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người
này xuyên tạc Như Lai. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói,
không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói,
có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
36. Quan điểm
của Phật đối với vấn đề ân nghĩa cha mẹ
Tăng Chi 1, trang 118~120 (Này các Tỷ-kheo, thế
nào là địa vị bậc không phải Chân nhân? Người không phải Chân nhân, này các
Tỷ-kheo, không biết ơn, không nhớ ơn. Ðối với những người độc ác, đây là đặc
tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức là không biết ơn, không nhớ ơn.
Ðây hoàn toàn là địa vị kẻ không Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức là không biết
ơn, không nhớ ơn. Còn bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, là biết ơn, là nhớ ơn. Ðối
với những thiện nhân, đây là đặc tánh của họ được biết đến, này các Tỷ-kheo, tức
là biết ơn, nhớ ơn. Ðây hoàn toàn là địa vị bậc Chân nhân, này các Tỷ-kheo, tức
là biết ơn, nhớ ơn. Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn
được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu
một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp,
thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện,
như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này
các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả
đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn
đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con
cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này. Nhưng này
các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an
trú, các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng
dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích,
hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến
khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các
Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha. ); 160 (Có
hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, khó tìm được ở đời. Thế nào là hai? Người
thi ân trước và người biết nhớ ơn đã làm. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo,
khó tìm được ở đời.
37. Vấn đề giải thích kinh điển
Tăng Chi 1, trang 132 (Những Tỷ-kheo nào, này
các Tỷ-kheo, chặn đứng cả văn và nghĩa, bằng cách nắm giữ sai lạc các kinh điển
và những văn tự thích ứng, thì những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chịu trách
nhiệm về bất hạnh cho đa số, không an lạc cho đa số, không lợi ích cho đa số,
bất hạnh, đau khổ cho chư Thiên và loài Người. Ngoài ra, các Tỷ-kheo ấy, này các
Tỷ-kheo, chất chứa nhiều vô phước làm cho diệu pháp biến mất.
Những Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, tùy thuận cả văn
và nghĩa, bằng cách nắm giữ đúng đắn các kinh điển và những văn tự thích ứng,
thì những Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chịu trách nhiệm về hạnh phúc cho đa số,
an lạc cho đa số, lợi ích cho đa số, hạnh phúc, và an lạc cho chư Thiên và loài
Người. Ngoài ra, các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, chất chứa nhiều phước đức, làm
cho diệu pháp an trú. );
Tăng Chi 1, trang 269 (Ai thuyết pháp cần phải
liễu giải nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Ai nghe pháp cần phải liễu giải
nghĩa và cần phải liễu giải pháp. Người thuyết pháp và cả người nghe pháp cần
phải liễu giải nghĩa, và cần phải liễu giải pháp. Thấy rõ ba lợi ích này, này
các Tỷ-kheo, là cần thiết cho một người thuyết pháp cho người khác.
38. Bốn Nguyên nhân
làm cho giáo pháp bị hỗn loạn
Tăng Chi 2, trang 95 (Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng
kinh, được lãnh thọ sai lầm, với văn cú sắp đặt bị đảo lộn. Do văn cú bị sắp đặt
đảo lộn, này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý bị hướng dẫn sai lạc. Này các Tỷ-kheo,
đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những người
khó nói, thành tựu với những pháp khiến cho trở thành khó nói, khó kham nhẫn. Họ
không kính trọng lời giáo giới. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ hai đưa đến
Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe
nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy
không nói lại kinh cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung, kinh bị
cắt đứt tại gốc rễ, không có chỗ ý cứ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa
đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Trưởng lão Tỷ-kheo là
những vị sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn
ly, không cố gắng tinh tấn để đạt được những gì chưa đạt được, để chứng đắc
những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Và những thế hệ
sau tiếp nối theo tà kiến của họ. Thế hệ ấy cũng sống đầy đủ, lười biếng, dẫn
đầu về đọa lạc, bỏ rơi gánh nặng sống viễn ly, không cố gắng tinh tấn để đạt
được những gì chưa đạt được, để chứng đắc những gì chưa chứng đắc, để chứng ngộ
những gì chưa chứng ngộ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ tư đưa đến Diệu pháp
hỗn loạn và biến mất.); Giống như Tăng Chi 2, trang 602~606.
Tăng chi 2,
trang 598~599 (Năm pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, và
biến mất. Thế nào là năm? Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không học thuộc
lòng Khế kinh, ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Không hỏi tự nói, Như thị
thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Ðây là pháp thứ
nhất, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không thuyết
pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là pháp
thứ hai, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không để cho các
người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc
lòng. Ðây là pháp thứ ba, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến
mất.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo không có đọc
tụng pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Ðây là
pháp thứ tư, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn và biến mất
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo với tâm không
tùy tầm, không tùy tứ, với ý không tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được
học thuộc lòng. Ðây là pháp thứ năm, này các Tỷ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn
và biến mất.); Tăng Chi 3, trang 98
39. Lấy Kinh
luật làm tiêu chuẩn cho lời dạy đức Phật
Tăng Chi 2,
trang 135~140 (Ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau: "Này Hiền giả,
đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi lãnh thọ như
vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư". Này các Tỷ-kheo,
các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không
tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và
đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh,
không tương xứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời
này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo
ấy đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau:
"Này Hiền giả, đối diện với Thế Tôn, tôi nghe như vậy, đối diện với Thế Tôn, tôi
lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"".
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của
Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải
học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù
hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn
những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các
Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo tốt đẹp". Này các Tỷ-kheo, đây là đại căn cứ địa thứ nhất
các Thầy cần phải thọ trì.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo nói như sau:
"Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối diện
Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng, tôi lãnh thọ như vậy:
"Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các
Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán
thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem
so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh, đem đối
chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không tương ứng với Luật,
thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này không phải lời dạy của
Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Này
các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như
sau: "Tại trú xứ kia có Tăng chúng ở với vị thượng tọa, với vị thủ chúng. Ðối
diện với Tăng chúng, tôi nghe như vậy, đối diện với Tăng chúng ấy, tôi lãnh thọ
như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"". Này các
Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy,
không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ
lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với kinh,
đem đối chiếu với luật và nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với Luật, thời
các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế Tôn, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các
Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ hai các Thầy cần phải thọ trì.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như
sau: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe
nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện
với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi
lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"".
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của
Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải
học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so
sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và nếu chúng không phù hợp với kinh, không
tương ứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này
không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy
đã thọ giáo sai lầm". Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như
sau: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo trưởng lão ở, những vị này là bậc nghe
nhiều, được trao truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện
với các trưởng lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với các trưởng lão ấy, tôi
lãnh thọ như vậy: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"".
Này các Tỷ-kheo, các Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của
Tỷ-kheo ấy, không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải
học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so
sánh với kinh, đem đối chiếu với luật và ếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng
với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời ấy là lời dạy của
Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn
chánh". Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ ba các Thầy cần phải thọ
trì.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như
sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao
truyền kinh điển, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng
lão ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy:
"Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các
Thầy không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán
thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem
so sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng không phù hợp với kinh,
không tươngxứng với Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời
này không phải lời dạy của Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Tỷ-kheo
ấy đã thọ giáo sai lầm". Và Này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy từ bỏ chúng.
Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói như
sau: "Tại trú xứ kia có vị trưởng lão, vị này là bậc nghe nhiều, được trao
truyền kinh điển, trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Ðối diện với vị trưởng lão
ấy, tôi nghe như vậy, đối diện với vị trưởng lão ấy, tôi lãnh thọ như vậy: "Ðây
là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy của bậc Ðạo sư"". Này các Tỷ-kheo, các Thầy
không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy, không tán thán,
không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải học hỏi kỹ lưỡng và đem so
sánh với kinh, đem đối chiếu với Luật. Nếu chúng phù hợp với kinh, tương ứng với
Luật, thời các Thầy có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này là lời dạy của Thế
Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và các Trưởng lão ấy đã thọ giáo chơn chánh".
Này các Tỷ-kheo, như vây là đại căn cứ địa thứ tư các Thầy cần phải thọ trì.
40. Cần hiểu rõ ý nghĩa của Kinh
điển
Tăng Chi 1, trang 137~139 (Này các Tỷ-kheo, có
hai hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng được huấn luyện trong khoa trương,
không được huấn luyện trong chất vấn và hội chúng được huấn luyện trong chất
vấn, không được huấn luyện trong khoa trương. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội
chúng được huấn luyện trong khoa trương, không được huấn luyện trong chất vấn? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo đối với các kinh điển do
Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa siêu kín, siêu thế, liên hệ đến không,
khi các kinh điển ấy được thuyết giảng, họ không khéo nghe, không lóng tai,
không an trú tâm để hiểu biết chúng, không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải lãnh
thọ, cần phải học thuộc lòng. Nhưng đối với các kinh điển thi văn do thi sĩ làm
ra, với các nguyên âm hoa mỹ, với các phụ âm hoa mỹ, các kinh thuộc ngoại giáo,
được các đệ tử ngoại giáo nói lên, khi các kinh điển ấy được thuyết giảng, họ
khéo nghe, họ lóng tai, họ an trú tâm để hiểu biết chúng, họ nghĩ rằng các pháp
ấy cần phải lãnh thọ, cần phải học thuộc lòng. Và sau khi học thuộc lòng các
pháp ấy, họ không hỏi đi hỏi lại cùng nhau, không có mở rộng ra để thảo luận với
những câu hỏi như: "Cái này là gì? Thế nào là ý nghĩa của cái này?" Họ không mở
rộng những gì được che kín, hạng không phới bày những gì không được phơi bày, họ
không giảinghi về những điểm nghi vấn trong Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là hội chúng được huấn luyện trong khoa trương, không được huấn luyện trong chất
vấn.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng được huấn
luyện trong chất vấn, không được huấn luyện trong khoa trương? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo đối với các kinh điển thi văn do thi sĩ
làm ra, với các nguyên âm hoa mỹ, với các phụ âm hoa mỹ, các kinh thuộc ngoại
giáo, được các đệ tử ngoại giáo nói lên, khi các kinh điển ấy được thuyết giảng,
họ không khéo nghe, họ không lóng tai, họ không an trú tâm để hiểu biết chúng,
họ không nghĩ rằng các pháp ấy cần phải lãnh thọ, cần phải học thuộc lòng. Nhưng
đối với các kinh điển do Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa siêu kín, siêu
thế, liên hệ đến không, khi các kinh điển ấy được thuyết giảng, họ khéo nghe,
lóng tai, họ an trú tâm để hiểu biết chúng, họ nghĩ rằng các pháp ấy cần phải
lãnh thọ, cần phải học thuộc lòng. Và sau khi học thuộc lòng các pháp ấy, họ hỏi
đi hỏi lại cùng nhau, họ mở rộng ra để thảo luận với những câu hỏi như sau :
"Cái này là gì? Thế nào là ý nghĩa của cái này?" Họ mở rộng những gì được che
kín, họ phới bày những gì không được phơi bày, họ giải nghi về các điểm nghi vấn
trong Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội chúng được huấn luyện trong
chất vấn, không được huấn luyện trong khoa trương. Này các Tỷ-kheo, có hai hội
chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức là
hội chúng được huấn luyện trong chất vấn, không được huấn luyện trong khoa
trương…..cần đọc thêm
trong kinh, có
nhiều ý kiến hay
41. A Tỳ
đàm
Tăng Chi 1,
trang 209 (Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo xây dựng được cơ bản? Ở đây,
này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập
A-gà-ma (A-hàm) bậc trì Pháp, trì Luật, trì Toát yếu, thường thường đến yết
kiến, phỏng vấn, đặt các câu hỏi: "Thưa Tôn giả, cái này là thế nào? Pháp này ý
nghĩa gì? "Các Tôn giả ấy mở rộng những gì chưa được mở rộng, phơi bày những gì
chưa được phơi bày, và đối với những đoạn sai khác còn có những chỗ nghi ngờ,
các vị ấy giải thích các sự nghi ngờ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo xây
dựng được cơ bản.
42. Những nguyên nhân
làm cho tài sản hưng thịnh
Tăng Chi 4, trang 23~26 (Ðầy đủ tháo vát, đầy
đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa, đầy đủ lòng tin, đầy
đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, có tám đầy đủ này. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ về tháo vát?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử phàm làm nghề gì
để sinh sống, hoặc nghề nông, hoặc đi buôn, hoặc nuôi bò, hoặc làm người bắn
cung, hoặc làm việc cho vua, hoặc bất cứ nghề gì, trong nghề ấy, người ấy thiện
xảo, không biết mệt, biết suy tư phương tiện vừa đủ để tự làm và điều khiển
người khác làm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ tháo vát. Và này các Tỷ-kheo,
thế nào là đầy đủ phòng hộ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, những tài sản của thiện nam
tử, do tháo vát tinh tấn thâu hoạch được, do sức mạnh cánh tay chất chứa được,
do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch được đúng pháp, vị ấy gìn giữ chúng, phòng
hộ và bảo vệ. Làm thế nào các tài sản này của ta không bị vua mang đi, không bị
trộm cướp mang đi, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn trôi, không bị các người
con thừa tự không khả ái cướp đoạt. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ phòng hộ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là làm bạn với thiện?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử sống tại làng hay
tại thị trấn. Tại đấy có những gia chủ, hay con người gia chủ, những người trẻ
được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới
đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ
bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy giao thiệp, nói chuyện, thảo luận với những người
ấy. Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy theo học đầy đủ lòng tin; với những
người đầy đủ bố thí, theo học đầy đủ bố thí; với những người đầy đủ trí tuệ,
theo học đầy đủ trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là làm bạn với thiện. Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là sống thăng bằng điều hòa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử sau khi biết tài
sản nhập, sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách thăng bằng điều hòa,
không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. Người ấy suy nghĩ: "Ðây là tiền nhập của
ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như sau: không phải là tiền xuất của ta,
sau khi trừ tiền nhập, còn lại như vậy". Ví như, này các Tỷ-kheo, người cầm cân
hay đệ tử người cầm cân, sau khi cầm cân, biết rằng: "Với chừng ấy, cân nặng
xuống; hay với chừng ấy, cân bổng lên". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử
sau khi biết tài sản nhập, sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều
hỏa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn, người ấy nghĩ rằng: "Ðây là tiền
nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất còn lại như vậy; không phải là tiền xuất
của ta, sau khi trừ đi tiền nhập, còn lại như vậy. Này các Tỷ-kheo, nếu thiện
nam tử này, tiền nhập vào ít, nhưng sống nếp sống rộng rãi (hoang phí), thời
người ta nói về người ấy như sau: "Người thiện nam tử này ăn tài sản của người
ấy như người ăn trái cây sung". Này các Tỷ-kheo, nếu người thiện nam tử này có
tiền nhập lớn, nhưng sống nếp sống cơ cực, thời người ta sẽ nói về người ấy như
sau: "Người thiện nam tử này sẽ chết như người chết đói". Khi nào, này các
Tỷ-kheo, sau khi biết tài sản nhập, sau khi biết tài sản xuất, sống nếp sống
thăng bằng điều hòa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn, nghĩ rằng: "Như
vậy, tiền nhập của ta, sau khi trừ đi tiền xuất, còn lại như vậy; không phải là
tiền xuất, sau khi trừ tiền nhập, còn lại như vậy". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
nếp sống thăng bằng, điều hòa. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ lòng tin?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử có lòng tin, tin
tưởng ở sự giác ngộ Của Như Lai: "Ðây là Thế Tôn... bậc Ðạo Sư của chư Thiên và
loài Người, Phật, Thế Tôn". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ lòng tin. Và này
các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ giới?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử từ bỏ sát sanh...
từ bỏ không đắm say rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ giới.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ bố thí?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử sống ở gia đình,
với tâm không bị c61u uế xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay rộng
mở, vui thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích chia xẻ vật bố thí. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ bố thí. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là đầy đủ,
trí tuệ?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thiện nam tử có trí tuệ, thành
tựu trí tuệ về sanh diệt, với Thánh thể nhập (quyết trạch), chơn chánh, chấm dứt
khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là đầy đủ trí tuệ.
43. Có 5 Lý do để
người Phật tử gây dựng tài sản
Tăng Chi 2, trang 374~376 (Này Gia chủ, có năm
lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ
lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu
được một cách hợp pháp; tự làm mình an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an
lạc; làm cho mẹ cha an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho vợ
con, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy
trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ nhất để gây dựng tài sản…. Vị ấy làm cho bạn bè
thân hữu an lạc…; Các tai họa từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay
từ các người thừa tự được chận đứng, và vị ấy giữ tài sản được an toàn cho vị
ấy….; Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã
chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên….; đối với các Sa-môn,
Bà-la-môn nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, nhiếp phục
tự mình, an tịnh tự mình, làm lắng dịu tự mình, đối với những Sa-môn, Bà-la-môn
như vậy vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, đưa đến cảnh giới chư Thiên,
được quả dị thục, đưa đến cõi trời
44. Sự khác biệt giữa hai hội chúng: Tôn trọng tài vật và không tôn trọng tài
vật
Tăng Chi 1, trang 140~141 (Này các Tỷ-kheo, có
hai loại hội chúng này. Thế nào là hai? Hội chúng tôn trọng tài vật, không tôn
trọng diệu pháp và hội chúng tôn trong diệu pháp, không tôn trọng tài vật. Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng tôn trọng tài vật, không tôn trọng diệu
pháp? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào, các Tỷ-kheo trước mặt các gia
chủ bận áo trắng, tự tán thán lẫn nhau như sau: "Tỷ-kheo này là bậc giải thoát
cả hai phần, Tỷ-kheo này là bậc tuệ giải thoát, Tỷ-kheo nàylà bậc Thân chứng,
Tỷ-kheo này là bậc Kiến chí, Tỷ-kheo này là bậc Tín giải thoát, Tỷ-kheo này là
bậc Tuệ giải thoát, Tỷ-kheo này là bậc Tùy pháp hành, Tỷ-kheo này là bậc Tùy tín
hành, Tỷ-kheo này là bậc có giới hạnh, theo thiện pháp, Tỷ-kheo này là kẻ Ác
giới, theo Ác pháp". Do vậy, họ được các lợi dưỡng. Sau khi được các lợi dưỡng,
họ thọ hưởng, bị trói buộc, mê say, đắm trước, không thấy các sự nguy hại, không
hiểu rõ sự giải thoát khỏi các lợi dưỡng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội
chúng tôn trọng tài vật, không tôn trọng diệu pháp.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hội chúng tôn trọng
diệu pháp, không tôn trọng tài vật? Ở đây, này các Tỷ-kheo, tại hội chúng nào,
các Tỷ-kheo trước mặt các gia chủ bận áo trắng, không tự tán thán lẫn nhau như
sau: "Tỷ-kheo này là bậc giải thoát cả hai phần, Tỷ-kheo này là bậc tuệ giải
thoát, Tỷ-kheo này là bậc Thân chứng, Tỷ-kheo này là bậc Kiến chí, Tỷ-kheo này
là bậc Tín giải thoát, Tỷ-kheo này là bậc Tùy pháp hành, Tỷ-kheo này là bậc Tùy
tín hành, Tỷ-kheo này là bậc có giới hạnh, theo thiện pháp, Tỷ-kheo này là kẻ Ác
giới, theo Ác pháp". Do vậy, họ được các lợi dưỡng, họ thọ hưởng các lợi dưỡng
ấy, không bị trói buộc, không bị mê say, không đắm trước, thấy các sự nguy hại,
hiểu rõ sự giải thoát khỏi các lợi dưỡng ấy. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hội
chúng tôn trọng diệu pháp, không tôn trọng tài vật. Này các Tỷ-kheo, có hai loại
hội chúng này. Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỷ-kheo, tức
là hội chúng tôn trọng diệu pháp, không tôn trọng tài vật.
45. Quan điểm của Phật
đối với vấn đề tài vật
Tăng Chi 1, trang 160~161 (Có hai hạng người
này, này các Tỷ-kheo, khó làm cho thỏa mãn. Thế nào là hai? Người cất chứa các
lợi dưỡng và người phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo,
là hai hạng người khó làm cho thỏa mãn. Có hai hạng người này, này các Tỷ-kheo,
dễ làm thỏa mãn. Thế nào là hai? Người không cất chứa các lợi dưỡng và người
không phung phí các lợi dưỡng. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, là hai hạng
người dễ làm thỏa mãn ở đời.);
Tăng Chi 2, trang (Nhờ tài sản, tự làm cho được
an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc ấy; làm cho mẹ cha được an lạc,
hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc ấy; làm cho vợ con, các người phục vụ,
các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc ấy; làm
cho bạn bè thân hữu được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc ấy; đối
với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, cung cấp các sự cúng dường hướng thượng, đưa đến
sự an lạc, dị thục liên hệ đến cõi trời và dẫn lên Thiên giới.
46. Giới luật và mục đích
chế giới và luật
Tăng Chi 1, trang 177~178 (Do thấy hai lợi ích
này, Như Lai chế lập học giới cho các đệ tử. Thế nào là hai? Cực thiện cho Tăng
chúng và an lạc cho Tăng chúng ... chế ngự các người ác và lạc thú cho thuần
tịnh Tỷ-Kheo ... sự phòng hộ các lậu hoặc, các oán thù, các tội phạm, các sợ
hãi, các pháp bất thiện ngay trong hiện tại, và sự ngăn chặn các lậu hoặc, các
oán thù, các tội phạm, các sợ hãi, các pháp bất thiện trong tương lai,... lòng
từ mẫn đối với các gia chủ và đoạn tuyệt các thành phần ác dục ... đem lại tâm
tín cho kẻ bất tín và làm trăng trưởng những kẻ có tín tâm ... cho diệu pháp
được an trú và để hộ trì giới luật.
Do duyên hai lợi ích này, này các Tỷ-kheo, Như Lai chế
lập giới bổn cho các đệ tử (như số 1 ở trên) ... tụng đọc giới bổn ...
đình chỉ giới bổn ... tự tứ ... đình chỉ tự tứ ... sở tác cần phải quở trách
...Sở tác cần phải y chỉ, sở tác cần phải tẩn xuất, sở tác cần phải xin lỗi ...
sở tác cần phải ngưng chức ... cho phép biệt trú ... bắt làm lại từ đầu ... ,
cho phép làm ... được phục hồi địa vị cũ ... được phục chức ... cần phải xuất ly
... cụ túc ... bạch yết-ma (lần đầu tiên) đưa ra biểu quyết lần thứ nhất ... đưa
ra biểu quyết lần thứ hai ... đưa ra biểu quyết lần thứ tư ... điều chưa được
chế lập ... thay đổi điều đã được chế lập ... giải quyết với sự hiện diện của
hai phe liên hệ ... giải quyết theo ức niệm của đương sự phạm tội ... giải quyết
sau khi đương sự khỏi điên loạn, ... giải quyết theo sự chấp nhận của đương
sự...giải quyết theo số đông... giải quyết tu theo đương sụ phạm tôị ... giải
quyết như trải cỏ ra.
Thê nào là hai? Cực thiện cho Tăng chúng và an lạc cho
Tăng chúng ... chế ngự các người ác và lạc trú cho thuần tịnh Tỷ-kheo ... cho
diệu pháp được an trú và để hộ trì giới luật. Do duyên hai lợi ích này, này các
Tỷ-kheo, Như Lai đã chế lập ... giải quyết như trải cỏ ra cho các đệ tử.)
Tăng Chi 2,
trang 94 (Này các Tỷ-kheo, khi bậc Thiện Thệ hay Luật của Thiện Thệ an trú ở đời
là vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng
cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. …Vị ấy
thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, nói lên Phạm
hạnh, hoàn toàn đầy đủ trong sạch. Này các Tỷ-kheo, đây là Luật của bậc Thiện
Thệ.
47. Hộ trì các căn
Tăng Chi 1,
trang 202 (Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo hộ trì các căn? Ở đây, này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ
tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được bảo vệ, khiến tham ưu,
các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo tự bảo vệ nguyên nhân ấy, phòng hộ nhãn
căn, thật hành phòng hộ nhãn căn. Khi tai nghe tiếng ... mũi ngửi hương ... lưỡi
nếm vị ... thân cảm xúc ... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng
chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, ví ý căn không được bảo
vệ, khiến tham mưu, các ác bất thiện pháp khởi lên, Tỷ-kheo bảo vệ nguyên nhân
ấy, phòng hộ ý căn, thật hành phòng hộ ý căn. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo hộ trì các căn
48. Tiết độ trong ăn uống
Tăng Chi 1,
trang 202~203 (Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống? Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như lý gác sát thọ dụng các món ăn, không phải để
vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp
mình, mà chỉ để thân này được an trú và được bảo dưỡng, để (thân này) khỏi bị
thương hại, để hộ trợ Phạm hạnh, nghĩ rằng: ", Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ
cũ, và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được
an ổn". Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống.
49. Hạnh kham
nhẫn
Tăng Chi 2, trang 107 (Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không kham
nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi muỗi, gió, sức nóng mặt trời,
các loài bò sát; không kham nhẫn những hình thức chưởi mắng, phỉ báng, không thể
chịu đựng được cảm thọ về thân khởi lên, khổ đau, nhói đau, mãnh liệt, kịch
liệt, không khả hỷ, không khả ý, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
đạo hành không kham nhẫn.
50. Chánh
Niệm
Tăng Chi 4,
trang 44 (Khi chánh niệm, tỉnh giác không có, này các Tỷ-kheo, với người không
có chánh niệm, tỉnh giác, tàm quý đi đến hủy diệt. Khi tàm quý không có, này các
Tỷ-kheo, với người thiếu tàm quý, chế ngự các căn đi đến hủy diệt. Khi chế ngự
các căn không có, với người thiếu chế ngự các căn, giới đi đến hủy diệt. Khi
giới không có, với người thiếu giới, chánh định đi đến hủy diệt. Khi chánh định
không có, với người không có chánh định, tri kiến như thật đi đến hủy diệt. Khi
tri kiến như thật không có, với người thiếu tri kiến như thật, nhàm chán, ly
tham đi đến hủy diệt. Khi nhàm chán, ly tham không có, với người thiếu nhàm
chán, ly tham, giải thoát tri kiến đi đến hủy diệt….
51. Nguyên tắc
cho Tỷ kheo để cho mọi người kính mến
Tăng Chi 2,
trang (Thành tựu năm pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo trú tại chỗ được các
vị đồng Phạm hạnh ái mộ, ưa thích, kính trọng, và đáng được làm gương để bắt
chước. Thế nào là năm? Có giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy
đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các tội nhỏ nhiệm, chấp nhận và học
tập các học pháp; nghe nhiều, thọ trì điều được nghe, tích tập điều được nghe;
các pháp nào sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống
Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh, những pháp ấy, vị ấy đã nghe nhiều, đã
nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ đọc nhiều lần, chuyên ý quan sát, khéo thành tựu nhờ
chánh kiến; thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn, nói lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch,
giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích nghĩa lý minh xác; chứng được không
có khó khăn, chứng được không có mệt nhọc, chứng được không có phí sức bốn
Thiền, thuộc tăng thượng tâm, đem đến hiện tại lạc trú; do đoạn tận các lậu hoặc
vị ấy tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay trong hiện tại
vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
52. Sự nguy
hiểm của sự kính mếm đối với một vị Tỷ kheo
Tăng Chi 2,
trang 745!746 (Có năm nguy hại này, này các Tỷ-kheo, trong lòng tịnh tín đối với
một người. Thế nào là năm? Trong người nào, này các Tỷ-kheo, một người có lòng
tịnh tín, và người ấy rơi vào một tội phạm, và tùy theo tội phạm ấy, chúng Tăng
ngưng chức vị ấy. Người này suy nghĩ: "Người mà ta ái mộ ưa thích, vị ấy bị
chúng Tăng ngưng chức", và người này không còn nhiều tịnh tín đối với các
Tỷ-kheo, người này không có liên hệ với các Tỷ-kheo khác. Do không liên hệ với
các Tỷ-kheo khác, người này không nghe diệu pháp. Do không nghe diệu pháp, người
này thối đọa khỏi Chánh pháp. Ðây là nguy hại thứ nhất, này các Tỷ-kheo, trong
sự tịnh tín đối với một người.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong người nào, một người
có lòng tịnh tín, và vị ấy rơi vào một tội phạm, và tùy theo tội phạm ấy, chúng
Tăng bắt vị ấy ngồi vào phía cuối. Người này suy nghĩ: "Người mà ta ái mộ ưa
thích, vị ấy bị chúng Tăng bắt ra ngồi phía cuối", và người này không còn nhiều
tịnh tín đối với các Tỷ-kheo. Do không còn nhiều tịnh tín đối với các Tỷ-kheo,
người này không có liên hệ đến các Tỷ-kheo khác. Do không liên hệ với các
Tỷ-kheo khác, người này không nghe diệu pháp. Do không nghe diệu pháp, người này
thối đọa khỏi Chánh pháp. Ðây là nguy hại thứ hai, này các Tỷ-kheo, trong sự
tịnh tín đối với một người.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, trong người nào, một người
có lòng tịnh tín, rồi người ấy đi vào một địa phương khác...người ấy bị loạn
tâm...người ấy mạng chung. Người này suy nghĩ: "Người mà ta ái mộ ưa thích, vị
ấy mạng chung". Người này không liên hệ đến các Tỷ-kheo khác. Do không liên hệ
với các Tỷ-kheo khác, người này không nghe diệu pháp. Do không nghe diệu pháp,
người này thối đọa khỏi Chánh pháp. Ðây là nguy hại thứ năm, này các Tỷ-kheo,
trong sự tịnh tín đối với một người.
53. Xuất hiện cách
lập luận của Phật giáo Đại thừa
Tăng Chi 2,
trang 127 (Khi được hỏi: "Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau
khổ) nhờ minh hay không?", Tôn giả nói: "Thưa không, này Hiền giả". Khi được
hỏi: "Thưa Tôn giả Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh hay
không?", Tôn giả nói: "Thưa không, này Hiền giả". Khi được hỏi: "Thưa Tôn giả
Sàriputta, có thể có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh và hạnh hay không?", Tôn
giả nói: "Thưa không, này Hiền giả". Khi được hỏi: "Thưa Tôn giả Sàriputta, có
thể có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh hay không?", Tôn giả nói:
"Thưa không, này Hiền giả". ... Như thế nào, thưa Tôn giả, (cần phải hiểu) có
người chấm dứt (đau khổ)?
Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ
minh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả,
nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt
(đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) nhờ minh
và hạnh, thời người ấy vẫn là người chấm dứt (đau khổ) với chấp thủ. Này Hiền
giả, nếu có người chấm dứt (đau khổ) ngoài minh và hạnh, thời một người phàm phu
có thể là người chấm dứt (đau khổ). Thưa Hiền giả, người phàm phu nhưng do có
minh và hạnh, hạnh không có đầy đủ, không như thật thấy và biết, nhưng như thật
thấy và biết, là người chấm dứt đau khổ.
54. Giới
luật
Tăng Chi 2,
trang 177 (Này các Tỷ-kheo, với cộng trú, giới cần phải được hiểu biết, như vậy,
trong một thời gian dài, không khác được có tác ý, không có không tác ý, với trí
tuệ, không phải với liệt tuệ. )
Tăng Chi 2, trang 275~279 (đề cập đến những danh xưng
của giới luật );
Tăng Chi 3,
trang 477 (Biết vi phạm; biết không vi phạm; biết phạm nhẹ, biết phạm nặng; cả
hai giới bổn được khéo truyền lại một cách rộng rãi, khéo phân loại, khéo điều
chỉnh, khéo quyết định thành sutta và thành chi tiết; bốn Thiền thuộc tăng
thượng tâm, hiện tại lạc trú, có được không khó khăn, có được không mệt nhọc, có
được không phí sức; do đoạn trừ các lậu hoặc, tự mình với thắng trí ngay trong
hiện tại chứng ngộ, chứng đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.);
Tăng Chi 3,
trang 479~480 (Luật về sự hiện diện cần phải áp dụng. Luật về ức niệm cần phải
áp dụng. Luật về không si mê cần phải áp dụng. Luật về tự thú nhận cần phải áp
dụng. Luật về đa số cần phải áp dụng. Luật về tìm tội ấy cần phải áp dụng. Luật
về trải cỏ cần phải áp dụng.);
Tăng Chi 4,
trang 348 ~350 (những giới điều có
liên
quan đến cung vua
55. Nguyên tắc để hình thành
giới luật
Tăng Chi 3,
trang 479 (Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa
đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ,
Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải
Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những
pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn
diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải
nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".);
Tăng Chi 4, trang 333~334 (Tôn giả Upàli bạch Thế
Tôn: Bạch Thế Tôn, do duyên bao nhiêu mục đích, các học pháp thiết lập cho các
đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc?
Này Upàli, do duyên mười mục đích, các học pháp được
thiết lập cho các đệ tử Như Lai và giới bổn Pàtimokkha được tuyên đọc. Thế nào
là mười? Ðể tăng chúng được cực thiện, để Tăng chúng được an ổn, để chận đứng
các người cứng đầu, để các thiện Tỷ-kheo được sống an ổn, để chế ngự các lậu
hoặc ngay trong hiện tại, để chận đứng các lậu hoặc trong tương lai, để đem lại
tịnh tín cho những người không tin, để làm tịnh tín tăng trưởng cho những người
có lòng tin, để diệu pháp được tồn tại, để luật được chấp nhận.
56. Khi Tỷ kheo đã phạm tội
Tăng Chi 4,
trang 58~59 (Này các Tỷ-kheo, với Tỷ-kheo đã bị hành tìm tội Yết-ma, cần phải
chơn chánh hành xử với vị ấy, theo tám pháp: Không cho pháp truyền đại giới,
không cho vị ấy y chỉ, không cho Sa-di hầu hạ, không cho phép được nói gì với
Tỷ-kheo dầu đã chấp nhận, không cho phép giáo giới các Tỷ-kheo-ni, không được
hưởng các quyết định của Tăng chúng, không được đặt trong một vị trí đặc biệt
nào, không được phép trở lại vị trí cũ bởi bất cứ lý do nào.
57. 5 điều kiện khiến Tỷ kheo
đọa lạc
Tăng Chi 2, trang 307 (Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có lòng tin,
không có lòng hổ thẹn, không có lòng sợ hãi, biếng nhác, ác tuệ. Thành tựu với
năm pháp này, này các Tỷ-kheo, ngay trong hiện tại sống đau khổ, với tổn não,
với ưu não, với nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung, được chờ đợi là ác thú.
58. Nguyên tắt cử tội người khác
Tăng Chi 2,
trang 628
Tại đấy, Tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo: Này các
Hiền giả, khi Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú nội tâm năm
pháp rồi hãy buộc tội. Thế nào là năm?
"Tôi sẽ nói đúng thời, không phải phi thời"; "Tôi sẽ nói chơn thật, không phải
phi chơn"; "Tôi sẽ nói nhu hòa, không phải thô bạo"; "Tôi sẽ nói liên hệ đến lợi
ích, không phải lời không liên hệ đến lợi ích"; "Tôi sẽ nói với từ tâm, không
phải sân tâm".
Này các Hiền giả, khi vị Tỷ-kheo buộc tội muốn buộc tội người khác, hãy an trú
nội tâm năm pháp rồi hãy buộc tội người khác.
Ở đây, này các Hiền giả, tôi thấy có người bị buộc tội
phi thời, nhưng phản ứng không đúng thời; có người bị buộc tội phi chơn và có
phản ứng không chơn thực; bị buộc tội thô bạo và có phản ứng không nhu hòa; bị
buộc tội không liên hệ đến lợi ích và có phản ứng không liên hệ đến lợi ích; bị
buộc tội với sân tâm và có phản ứng không có từ tâm.
Tỷ-kheo buộc tội phi pháp, có năm lý do không cần sắp
đặt sám hối: "Tôn gi̐