Sách

Những
vấn đề cốt lõi trong
Kinh
Tạp A Hàm
Biên soạn: Thích Hạnh Bình
Mục lục
0. Lời tựa
1.
Đức Phật
2.
Mục đích Phật ra đời là cứu chúng sinh và phương
pháp cứu độ
3.
Đức Phật là bậc Đại y vương
4.
Như Lai chỉ là người dẫn đường
5.
Thế nào gọi là Phật
6.
Mười hiệu
7.
Thế Tôn bị bịnh
8.
Thế Tôn bị mạ lỵ
9.
Ba minh
10.
Sự dị biệt giữa Phật và ngoại đạo
về 3 minh
11.
Tình cảm các Tỷ kheo, cư sĩ đối với
Phật
12.
Bốn thánh quả
13.
Pháp hữu lậu và vô lậu
14.
Thế nào là nhập lưu
15.
A la Hán
16.
A
la Hán và vấn đề lậu hoặc
17.
A la Hán sau khi thân hoại mạng
chung không còn gì
18.
Sự dị biệt giữa A la Hán và Như Lai
19.
Kẻ sát nhân Ương Cù Lợi Ma La vẫn
chứng A la hán
20.
1000 vị A la hán
21.
Thân bịnh khổ mà tâm không bịnh khổ
22.
Thế nào gọi là Niết-bàn
23.
Hiện tại Niết-bàn
24.
Con đường hướng đến Niết bàn
25.
Các
loại Niết bàn
26.
Đáo bỉ ngạn
27.
Mục đích giáo dục của đức Phật là
chấm dứt khổ đau
28.
Con rùa
mù với bộng cây
29.
Lời Phật dạy là chân lý của thế
gian
30.
Nhân duyên là học thuyết của Đức
Phật
31.
Chư Phật 3 đời đều giác ngộ giáo lý
duyên khởi
32.
Pháp duyên sinh là chân lý của thế
gian
33.
Rống tiếng rống sư tử biểu thị Phật
nói pháp duyên khởi
34.
Giải thích 12 duyên sinh
35.
Quán duyên sinh và duyên diệt
36.
Sự khác biệt giữa pháp nhân duyên
và duyên sinh
37.
37 phẩm trợ đạo
38.
Tứ niệm xứ
39.
4 chánh cần
40.
5 căn
41.
5 lực
42.
10 lực
43.
7 giác chi
44.
Bát chánh đạo
45.
3 vô lậu học
46.
4 nhiếp pháp
47.
4 thực
48.
Tứ Đế
49.
12 xứ
50.
18 giới
51.
Quá trình hình thành những nổi khổ
52.
Nương tựa chính mình
53. Nhân
quả
54.
Sanh tử luân hồi
55.
Diệt tận định
56.
Chánh quán
57.
Tu tập chỉ và quán
58.
Quán bất tịnh
59.
Sự sai lầm việc tu tập quán bất
tịnh
60.
Chánh Tư duy
61.
Tu tập pháp môn hơi thở ra vô
62.
Vô Thường
63.
Phi Ngã
64.
Có sanh
thì có tử
65.
Lời Phật dạy cứu thiếu phụ khỏi
chết
66.
Mối quan hệ giữa danh, sắc và thức
67.
Thức thường hay vô thường
68.
Nếu vô ngã thì ai là người tạo nhân
và thọ quả?
69.
Ni Kiền tử và đức Phật tranh luận
về vấn đề vô ngã
70.
Hữu ngã
71.
Có và không (Trung đạo)
72.
Giới
luật (250 giới)
73.
Mục
đích của sự chế giới
74.
8 điều bất chánh khi Tỷ kheo bị cử
tội
75.
Nguyên tắc cử tội
76.
Dấu vết pháp và luật của hiền thánh
77.
5 giới
78.
Kết quả việc giữ 5 giới và không
giữ 5 giới
79.
Tại sao phải giữ 5 giới
80.
Lời đồn về các Tỷ kheo cất chứa
vàng bạc (Thập sự phi pháp)
81.
Ngoại đạo muốn xuất gia phải trải
qua 4 tháng tập sự
82.
Luật nghi và phi luật nghi
83.
Tự tứ
84.
Tâm Tỷ kheo khi vào nhà cư sĩ
85.
Vấn đề giáo giới Tỷ kheo Ni
86.
Mối quan hệ giữa oai nghi và giải
thoát
87.
Phật chỉ tán thán Tỷ kheo ở nơi
thanh vắng
88.
Không chấp trước hình tướng bên
ngoài
89.
Vấn đề phó chúc
90.
Tôn giả Ca Diếp
91.
Tôn giả Xá Lợi Phất
92.
Tôn giả A Nan
93.
Tu Bạt Đà La là người được Thế Tôn
giáo hóa cuối cùng
94.
Những biệt tài của các đại đệ tử
Phật
95.
Thế nào gọi là Đa văn?
96.
Thế nào gọi là Pháp sư?
97.
Thế nào gọi là Tỷ kheo?
98.
Tiêu chuẩn cho Tỷ kheo khi hoằng
pháp
99.
4 chúng
100.
Sa môn
101.
Mục đích của việc
xuất gia
102.
Cần phải từ bỏ pháp không phải của
Tỷ kheo
103.
Xuất gia sống nơi vắng vẻ
104.
Nguyên tắc
sống cho ng ười xuất gia
105.
8 đức tánh tốt của Tỷ kheo
106.
Tỷ kheo đối với người nữ
107.
Tỷ kheo bị bò húc chết
108.
Tỷ kheo Đề xá không muốn tu tập
trong Phật pháp
109.
Tỷ kheo ác tâm
110.
Tỷ kheo ni
111.
Tỷ kheo ni lõa thể gợi dục A Nan
112.
Hương bay ngược gió
113.
Bốn hạng người
114.
3 hạng người con
115.
Trưởng giả Cấp Cô Độc
116.
Vua Ba tư nặc
117.
Vua A Dục
118.
Bảy báu của chuyển luân thánh vương
119.
Ưu bà tắc gương mẫu
120.
Cư sĩ chỉ chứng A na hàm
121.
Đề Bà Đạt Đa
122.
Tội ngũ nghịch
123.
Thân thích với đức Phật
124.
Sự kiện phá hoại Phật Pháp sau khi
Phật nhập diệt 1.000 năm
125.
Thế nào gọi là vô minh
126.
Thế nào gọi là minh
127.
Vai trò của chánh kiến
128.
Lấy trí tuệ phân biệt giữa người có
tu và không tu tập
129.
Sự
nguy hiểm của chấp thủ, chấp trước
130.
Sự khác biệt giữa người trí và kẻ
ngu
131.
5 dục được ví như hầm lửa
132.
Chính tham dục trói
buộc con người, không phải vật chất
133.
Thức
thân
134.
Sự hòa
hợp của 3 pháp
135.
3 cảm thọ
136.
Kẻ trí và người ngu
137.
Chánh và tà
138.
Pháp bất thiện
139.
Pháp thiện
140.
Sự khác biệt giữa thiện và thiện
căn; bất thiện và bất thiện căn
141.
Thế nào là người thiện và bất thiện
142.
Sự nguy hiểm của người làm ác
143.
Thiện xảo về sắc
144.
Lời Phật dạy ít như lá cây trong
rừng
145.
14 vấn đề siêu hình
146.
Ngoại đạo: tại sao Thế Tôn không
trả lời những vấn đề siêu hình?
147.
Mục Kiền Liên và Ca Diếp giải thích
lý do tại sao Phật không trả lời vấn đề siêu hình
148.
Lý do tại sao đức Phật không giải
thích những vấn đề siêu hình
149.
Tỷ kheo không nên bàn luận những
việc không liên quan đến phạm hạnh
150.
Pháp Phật đều có khuynh hướng giải
thoát
151.
Ngoại đạo: Duy vật luận Ajita
152.
Ngoại đạo: Vô nhân vô duyên
153.
Ngoại đạo: Pakudha-Kaccayana
154.
Ngoại đạo: Purana (Phủ định đạo
đức)
155.
Ngoại đạo: Gosala (Định
Mệnh?)
156.
Ngoại đạo: Sanjaya (phái hoài nghi)
157.
Đức Phật phê phán hai cực đoan:
hưởng lạc và khổ hạnh
158.
Ma Ba Tuần tìm cách hại Phật
159.
Thế Tôn không chủ trương đoạn diệt
160.
Mục đích xuất gia của Ngoại đạo
161.
Ngoại đạo trà trộn trong tăng đoàn
162.
Quan điểm của đức Phật về việc xem
tướng, thiên văn
163.
Phê phán Tỷ kheo sống bằng nghề xem
tướng...tà mạng
164.
Quan điểm của đức Phật về vấn đề tế
lễ
165.
Người đã chết có hưởng được vật
cúng không?
166.
Đức Phật không bàn chuyện chết
167.
Tam bảo
168.
Niệm Phật, pháp, tăng, giới, thí và
thiên
169.
4 bất hoại tịnh
170.
5 điều lỗi lầm của niềm tin mù
quáng
171.
Tin ta mà không hiểu ta là hủy báng
ta
172.
Các cõi trời
173.
Các cõi trời và A tu la
174.
Chư Thiên
175.
sự khác biệt giữa tuổi thọ ở cõi
trời và nhân gian
176.
Thuyết Phạm Thiên
177.
Phật chủ trương bình đẳng đối với 4
giai cấp
178.
Đạo đức không dựa vào tuổi tác hay
địa vị để đánh giá
179.
Trí tuệ là cái quyết định giải
thoát không phải giữ giới
180.
Im lặng như chánh pháp
181.
Nên nói và không nên nói
182.
Tùy căn cơ nói pháp
183.
Điều ngự hay 3 phương pháp giáo dục
của Phật
184.
Tỷ kheo đáng cúng dường
185.
Nhận vật bố
thí và sự nguy hiểm của nó
186.
Bố thí không phải là nguyên nhân
đưa đến nghèo khổ
187.
Cho mà không nhận thì vật đó trở về
mình
188.
4 nguyên nhân làm cho đời sống con
người nghèo khổ
189.
Tỷ kheo cúng dường cho cha mẹ là
đúng pháp
190.
4 pháp làm cho
người tại gia lợi ích và an lạc
ngay ở hiện tại và đời sau
191.
Tu là người lội ngược dòng đời
192.
Lợi ích của việc gần gũi người có
tu tập
193.
Việc sai lầm đều có thể sửa đổi
194.
Tu là sự biết phận biệt giữa sai và
đúng
195.
Tu tập như lên giây đàn
196.
Hộ trì các căn
197.
Cách chăn trâu
198.
Lấy không hận diệt hận
199.
Không buông lung
200.
Pháp Sám hối
201.
Tu tập hay không tu tập được biểu
thị khi Tỷ kheo tiếp xúc với 6 trần có tham hay không
202.
Việc làm của người xuất gia và cư
sĩ khác nhau
203.
Quan điểm về Tiền thân (Tục lễ
Quán đảnh của vua)
204.
Phật giáo giải quyết những vấn đề
xã hội
205.
Phật nói pháp cho thương nhân
206.
Thế nào gọi là chúng sanh
207.
Đức Phật nói về chuyện thọ sanh
208.
Mối quan hệ giữa Phú Lâu Na và Bồ
Tát Thường Bất Kinh
209. Có liên hệ đến Kinh Tăng Nhất A hàm
210.
Sự nguy hiểm của tợ pháp (giáo pháp
giả mạo)
211.
Định nghĩa các danh từ Phật học
212.
Thần thông
213.
Thọ ký
214.
Trụ vào chỗ thánh trụ
215.
Tự lợi có nghĩa là lợi tha; Lợi tha
cũng có nghĩa tự lợi
216.
Vô vi
217.
Phương pháp lý luận của đức Phật
218.
Mẹ
và con
219.
Con ngựa tốt
220.
Thế Tôn thăm và giảng dạy cho người
bệnh
221.
Khất thực
Lời tựa
Nguồn tư liệu
Hán dịch, Phật giáo Bắc truyền có 4 bộ A hàm (Àgama) “Kinh Trường A hàm”
《長阿含經》 “Kinh Trung A hàm”
《中阿含經》 “Kinh Tạp A hàm”
《雜阿含經》 và “Kinh Tăng Nhất A hàm”
《增一阿含經》, tương đương với Kinh điển
Nam truyền là “Kinh Trường bộ” (Dighanik?ya),
“Kinh Trung bộ” (Majjhimanik?ya), “Kinh
Tương Ưng bộ” (Sa×yuttanik?ya),
và “Kinh Tăng Chi bộ” (Aºguttaranik?ya).
Ngoài ra, Phật giáo Nam truyền còn có một bộ nữa là: “Kinh Tiểu Bộ“ (Khuddakanik?ya),
tương đương với nguồn tư liệu Hán dịch là “Kinh Bổn Sanh”
《本生》và “Bổn Sự”
《本事》với nội dung là những câu chuyện
tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni trong quá khứ. Thế nhưng, Phật giáo Bắc
truyền không xếp hai kinh này vào bộ A hàm, cho nên Phật giáo Bắc truyền chỉ có
4 bộ A hàm, ngược lại Phật giáo Nam truyền có đến 5 bộ Nikàya (pa�ca-nik?ya)
. Lý do tại sao, đây là vấn đề khá thú vị cho người làm công việc nghiên cứu các
bộ phái ở Ấn Độ.
Như chúng ta
biết, bản Hán dịch “Kinh Tạp A hàm” là một trong 4 bộ A hàm, do Ngài Cầu Na Bạt
Đà La (Guöabhadra) dịch, chia làm 50
quyển, có tất cả là 1.362 kinh, được biên tập vào quyển thứ 2 của bộ “Đại Chính
Tân Tu Đại Tạng Kinh”. Hoà Thượng Ấn Thuận (印順1906~2005)căn
cứ lời đề xuất của học giả Lữ Trưng (呂澂)đã
căn cứ tác phẩm “Du Già Sư Địa Luận”(《瑜伽師地論》)
biên tập thành một bộ mới gọi là “Tạp A hàm Kinh Luận Hội biên” (《雜阿含經論會編》),
3 tập, gồm 13.412 kinh. Ngoài bản dịch của Ngài Cầu Na Bạt Đà La còn một dịch
bản khác nữa với tựa đề “Biệt dịch Tạp A hàm” 16 quyển, 364 kinh, không biết
dịch giả ai.
Bản Hán dịch
của Cầu Na Bạt Đà La, trước đây đã được Hoà thượng Thích Thiện Siêu và Thanh Từ
dịch sang Việt văn, cũng đã được Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành.
Ngoài bản dịch Việt ngữ này còn có bản dịch của Thượng tọa Thích Đức Thắng với
sự hiệu đính và chú thích của Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, hiện đã được Hội Văn Hóa
Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, cũng được đăng tải trên trang Websites:
www.quangduc.com. Có thể nói đây là bản dịch hoàn chỉnh, nhất là phần chú
thích khá công phu của TT. Tuệ Sỹ, Ngài đã dày công so sánh và đối chiếu với bản
Pàli, khiến người đọc rõ ràng hơn, đồng thời nó cũng giúp cho giới nghiên cứu,
dễ dàng so đối chiếu giữa hai nguồn tư liệu khác nhau.
Tác phẩm
“Những Vấn Đề Cốt Lõi Trong Kinh Tạp A Hàm” mà độc giả đang cầm trên tay là
những ấn đề then chốt được ghi lại trong kinh này, hay nói một cách chính xác
hơn là những sự kiện xảy ra từ khi đức Phật thành đạo cho đến khi kiết tập kinh
này, thậm chí có những kinh với nội dung ghi lại những sự kiện xuất hiện rất
muộn về sau, vào thời vua A Dục hoặc sau đó nhưng cũng được biên tập vào kinh
này. Điều đó gợi ý cho chúng ta hiểu rằng, không phải bất cứ điều gì được ghi
trong kinh, đều cho là Phật nói, phật dạy.
Thật ra, tác
phẩm này là bản ghi nhớ mang tính cá nhân, trong thời gian nghiên cứu các kinh
điển A hàm. với mục đích vì để nắm rõ từng sự kiện lịch sử, nguồn gốc và sự phát
sinh của nó như thế nào, và nó có liên hệ gì trong quá trình diễn biến của lịch
sử tư tưởng Phật giáo Ấn độ. Theo tôi, bản ghi nhớ này đã giúp cho tôi khá nhiều
trong lãnh vực tìm hiểu Phật giáo Ấn độ, nó đã lý giải những hoài nghi của tôi
trong suốt thời gian qua, đồng thời cũng chính nó là chìa khoá cho tôi khám phá
một số vấn đề Phật học khá lý thú như tôi đã xuất bản cũng như chưa xuất bản.
Vì là bản ghi
nhớ cho việc nghiên cứu của cá nhân, cho nên nội dung biên soạn của nó cũng mang
tính cá nhân, do vậy không sao tránh khỏi sự kiếm khuyết, mong độc giả chỉ điểm,
để lần tái bản hoàn chỉnh hơn. Ở đây, có một điều mà soạn giả muốn độc giả lưu
ý, các chủ đề được in đậm trong tác phẩm này là những ý kiến riêng của soạn giả,
phần còn lại tất cả là nội dung được trích dẫn từ “Kinh Tạp A hàm” do Thượng tọa
Đức Thắng dịch sang Việt ngữ, đăng tải trên trang Websites quangduc.com.
Tác phẩm này
ra đời, vì mục đích giúp cho các Tăng, Ni sinh đang theo học các khoa Phật học,
cũng như Phật tử có nhu cầu tìm hiểu Phật học khỏi mất thời gian tra cứu.
Đài Bắc
ngày 16/12/2006
Kính bút
Thích Hạnh Bình
Nội dung
1.
Đức Phật
(No. 53). Bấy giờ chủ tụ lạc Bà-la-môn Đại Tánh nghe đồn rằng, “Sa-môn
dòng họ Thích, ở nơi dòng họ lớn Thích-ca mà cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh
tín xuất gia, học đạo, sống không gia đình, thành Bậc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác,
đang du hành trong nhân gian, đến ở trong rừng Thân-thứ, phía Bắc tụ lạc Tát-la
thuộc nước Câu-tát-la này. Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm này, tướng mạo danh xưng, công
đức chân thật như vậy được cả trời và người ca tụng, tiếng đồn bay khắp tám
phương; là Bậc Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài
ở giữa các cõi, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, với trí tuệ rộng lớn có
thể tự mình chứng biết rõ rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những
điều cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Ngài vì đời
nói pháp, khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều toàn thiện; có nghĩa, có vị
đều thiện, thuần nhất thanh tịnh, phạm hạnh thanh bạch, diễn nói chánh pháp vi
diệu. Lành thay, nên gặp! Lành thay, nên đi đến! Lành thay, nên cung kính thừa
sự!”
(No. 1087). Một thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ, vào ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành. Đến cuối đêm, rửa chân,
vào phòng, nằm nghiêng bên phải, cột niệm vào tướng ánh sáng, chánh niệm, chánh
trí, nghĩ tưởng đến thức.
2. Mục
đích Phật ra đời là cứu chúng sinh và phương pháp cứu độ
(No. 346). “Có ba pháp mà thế gian không yêu thích, không nhớ nghĩ, không
vừa ý. Những gì là ba? Đó là già, bệnh, chết. Thế gian nếu không có ba pháp
không đáng yêu thích, không đáng nhớ nghĩ, không vừa ý này thì Như Lai, Ứng
Cúng, Đẳng Chánh Giác không xuất hiện ở thế gian; thế gian cũng không biết có
Chánh pháp luật được tri kiến và được tuyên thuyết bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác. Vì thế gian có ba pháp già, bệnh, chết, không đáng yêu thích, không
đáng nhớ nghĩ và không vừa ý này, cho nên Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác mới
xuất hiện ở thế gian; thế gian biết có Chánh pháp luật được tri kiến và được
tuyên thuyết bởi Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.
“Vì ba pháp chưa đoạn nên không thể thoát khỏi già, bệnh, chết. Ba pháp đó là
tham, nhuế, si.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa tham, nhuế, si. Ba pháp đó là
thân kiến, giới thủ, nghi.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được thân kiến, giới thủ, nghi.
Ba pháp đó là không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không chánh tư duy, thân cận
tà đạo và tâm biếng nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không chánh tri, loạn tâm.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa thất niệm, không chánh tri, loạn
tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật nghi, chẳng học giới.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa dao động, không luật nghi, chẳng
học giới. Ba pháp đó là không tin, khó dạy, lười biếng.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa không tin, khó dạy, lười biếng.
Ba pháp đó là không muốn thấy bậc Thánh, chẳng muốn nghe pháp, thường hay tìm
điều dở của người.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể xa lìa không muốn thấy bậc Thánh,
không muốn nghe pháp, ưa tìm cầu điều dở của người. Ba pháp đó là không cung
kính, nói năng ngang trái, quen theo bạn xấu.
“Lại vì có ba pháp chưa đoạn nên không thể lìa được không cung kính, nói năng
ngang trái, quen theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không quý, buông lung.
Vì ba pháp này không đoạn trừ nên không thể lìa được không cung kính, nói năng
ngang trái, quen bạn xấu. Vì sao? Vì do không tàm, không quí nên buông lung; vì
buông lung nên không cung kính; vì không cung kính nên quen theo bạn xấu; vì
quen theo bạn xấu nên không muốn thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, hay ưa
tìm điều dở của người; vì ưa tìm điều dở của người nên không tin, khó dạy, nói
năng ngang trái, lười biếng; vì lười biếng nên dao động, không luật nghi, không
học giới; vì không học giới nên thất niệm, không chánh tri, loạn tâm; vì loạn
tâm nên không chánh tư duy, thân cận tà đạo, tâm biếng nhác; vì tâm biếng nhác
nên thân kiến, giới thủ, nghi; vì nghi nên không lìa tham, nhuế, si; vì không
lìa tham, nhuế, si nên không thể lìa được già, bệnh, chết.
“Nếu dứt được ba pháp này thì mới có thể lìa được già, bệnh, chết. Ba pháp đó là
tham, nhuế, si. Ba pháp này dứt rồi mới có thể lìa già, bệnh, chết.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tham, nhuế, si. Ba pháp đó là thân kiến,
giới thủ, nghi. Vì dứt được ba pháp này nên có thể lìa được tham, sân, si.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa thân kiến, giới thủ, nghi. Ba pháp đó là
không chánh tư duy, thân cận tà đạo, khởi tâm biếng nhác. Vì dứt ba pháp này nên
lìa thân kiến, giới thủ, nghi.
“Lại vì dứt ba pháp nên có lìa không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng
nhác. Ba pháp đó là thất niệm, không chánh tri, loạn tâm. Vì dứt ba pháp này nên
lìa được không chánh tư duy, thân cận tà đạo và tâm biếng nhác.
“Lại vì dứt được ba pháp này nên lìa được thất niệm, tâm không chánh tri, loạn
tâm. Ba pháp đó là dao động, không luật nghi, phạm giới. Vì dứt ba pháp này nên
lìa được thất niệm, tâm không chánh tri, loạn tâm.
“Lại vì dứt ba pháp nên lìa được dao động, chẳng luật nghi, phạm giới. Ba pháp
đó là không tin, khó dạy, biếng nhác. Vì dứt được ba pháp này nên lìa được dao
động, không luật nghi, phạm giới.
“Lại vì dứt được ba pháp nên lìa được chẳng tin, khó dạy, biếng nhác. Ba pháp đó
là không muốn thấy bậc Thánh, không ưa nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Vì
dứt ba pháp này nên có thể lìa được không tin, khó dạy, biếng nhác.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa được tâm không muốn thấy bậc Thánh, không ưa
nghe pháp, ưa tìm điều dở của người. Ba pháp đó là không cung kính, nói năng
ngang trái, quen theo bạn xấu. Vì dứt được ba pháp này nên lìa sự không muốn
thấy bậc Thánh, không muốn nghe pháp, ưa tìm điều dở của người.
“Lại vì dứt ba pháp nên có thể lìa chẳng cung kính, nói năng ngang ngược, tập
theo bạn xấu. Ba pháp đó là không tàm, không quí, buông lung. Vì sao? Vì do tàm
quí nên không buông lung. Vì không buông lung nên tâm cung kính, nói năng hòa
nhã, làm thiện tri thức. Vì là thiện tri thức nên ưa thấy Hiền thánh, ưa nghe
Chánh pháp, chẳng tìm điều dở của người. Vì chẳng ưa tìm điều dở của người nên
sanh lòng tin, nói năng hòa nhã và tinh tấn. Vì tinh tấn nên không dao động, an
trú trong luật nghi, học giới. Nhờ học giới nên không thất niệm, an trú chánh
tri, chẳng loạn tâm. Nhờ không loạn tâm nên chánh tư duy, gần gũi chánh đạo, tâm
không biếng nhác. Nhờ tâm không biếng nhác nên không chấp trước thân kiến, không
chấp trước giới thủ, vượt khỏi nghi hoặc. Nhờ chẳng nghi nên chẳng khởi tham,
nhuế, si. Nhờ lìa tham, nhuế, si nên có thể dứt già, bệnh, chết.” (giống
kinh số 760)
3.
Đức Phật là bậc Đại y vương
(No. 389). Một thời, Phật trú trong vườn Lộc dã, Tiên nhân trú xứ, nước
Ba-la-nại. Bấy giờ Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có bốn pháp, nếu thành tựu thì được gọi là bậc Đại y vương, đầy đủ các chi phần
cần phải có. Những gì là bốn? Một là khéo biết bệnh; hai là khéo biết nguyên
nhân của bệnh; ba là khéo biết cách đối trị bệnh; bốn là khéo biết trị bệnh để
về sau bệnh không còn tái phát nữa.
“Thế nào gọi là lương y khéo biết bệnh? Lương y biết rành các chủng loại bệnh
như vậy, như vậy; đó gọi là lương y khéo biết bệnh.
“Thế nào là lương y khéo biết căn nguyên của bệnh? Lương y biết rành bệnh này do
gió gây nên, do đàm ấm gây nên, nước nhớt nước dãi gây nên, khí lạnh gây nên, do
các sự việc hiện tại gây nên, do thời tiết gây nên; đó gọi là lương y khéo biết
căn nguyên của bệnh.
“Thế nào là lương y khéo biết cách đối trị bệnh? Lương y biết rành các loại
bệnh, nên thoa thuốc, nên cho mửa, cho xổ, nên nhỏ mũi, nên xông, nên cho ra mồ
hôi; và những cách đối trị đại loại như vậy; đó gọi là lương y khéo biết cách
đối trị.
“Thế nào là lương y khéo biết trị bệnh rồi về sau bệnh không còn tái phát nữa?
Lương y khéo trị tất cả các chứng bệnh, khiến dứt trừ hoàn toàn, vĩnh viễn không
tái phát trở lại sau này nữa; đó gọi là lương y khéo biết trị bệnh không còn tái
phát nữa.
“Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác là Bậc Đại Y vương đã thành tựu bốn đức,
chữa lành bệnh chúng sanh cũng lại như vậy. Bốn đức là gì? là Như Lai biết như
thật đây là Khổ Thánh đế; biết như thật đây là Khổ tập Thánh đế; đã biết như
thật đây là Khổ diệt Thánh đế, biết như thật đây là Khổ diệt đạo tích Thánh đế.
“Này các Tỳ-kheo, các lương y thế gian không biết như thật cách đối trị đối với
cội gốc sanh, không biết như thật cách đối trị đối với cội gốc lão, bệnh, tử,
ưu, bi, khổ, não. Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác là vị Đại Y vương, biết như
thật cách đối trị đối với cội gốc sanh, lão, tử, ưu, bi, khổ, não. Vì thế nên
Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác được gọi là Đại Y vương.”
4.
Như Lai chỉ là người dẫn đường
(No. 271). Phật bảo Đê-xá: “Lành thay! Lành thay! Đê-xá,
bây giờ Ta sẽ nói thí dụ, người trí sẽ nhờ thí dụ mà hiểu được. Như hai người
bạn cùng đi trên một con đường, một người biết rành đường, một người không rành
đường. Người không biết nói với người biết như vầy: ‘Tôi muốn đến thành phố kia,
thôn ấp kia, làng xóm kia, hãy chỉ đường cho tôi đến đó.’ Khi ấy, người rành
đường liền chỉ đường cho người kia, nói rằng: ‘Anh đi theo con đường này và sẽ
thấy hai con đường ở phía trước; bỏ bên trái đi theo lối phải tới trước, sẽ gặp
hầm hố và dòng sông. Lại bỏ bên trái, theo lối phải, sẽ gặp một khu rừng. Lại bỏ
bên trái, theo lối phải, cứ như vậy, từ từ tiến bước về phía trước thì sẽ đến
thành kia.’”
Phật bảo Đê-xá: “Thí dụ này như vầy: người không biết đường là
ví cho kẻ phàm phu ngu si, còn người biết đường là ví cho Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Đẳng Chánh Giác. Hai con đường trước là chỉ cho sự hồ nghi của chúng sanh.
Con đường trái là chỉ cho ba pháp bất thiện: tham, nhuế và hại giác. Con đường
bên phải là chỉ cho ba thiện giác: xuất yếu ly dục giác, bất sân giác, bất hại
giác. Đi về đường bên trái
là chỉ cho tà kiến, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm,
tà định. Đi về đường bên phải là chỉ cho chánh kiến, chánh chí, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Còn hầm hố và
dòng nước là chỉ cho sân nhuế, buồn lo, che lấp. Rừng cây là chỉ cho năm công
đức của dục. Thành kia là chỉ cho Niết-bàn.”
Phật bảo Đê-xá: “Phật là vị Đạo Sư, vì các hàng Thanh văn mà
những gì cần làm đã làm xong. Như nay, vì lòng thương xót nên đưa đến sự lợi
ích, an vui; phận sự Ta đã làm xong. Hôm nay ngươi hãy làm những việc phải làm.
Hãy đến dưới bóng cây, hoặc chỗ đất trống, hoặc trong hang núi, trải cỏ làm chỗ
ngồi, khéo tư duy chánh niệm, tu tập không buông lung, chớ để tâm hối hận về sau
này. Nay Ta dạy ngươi như vậy.”
5.
Thế nào gọi là Phật
(100). Bấy giờ có một Bà-la-môn
đến chỗ Phật, cùng thăm hỏi sức khỏe, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch Cù-đàm, gọi là Phật, vậy thế nào là Phật? Là tên do cha mẹ đặt, hay là do
Bà-la-môn đặt?”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:
Phật thấy đời quá khứ,
Thấy vị lai cũng vậy,
Cũng thấy đời hiện tại,
Tất cả hành khởi diệt,
Trí sáng biết rõ ràng,
Điều cần tu đã tu,
Điều nên đoạn đã đoạn,
Cho nên gọi là Phật.
Nhiều kiếp tìm lựa chọn,
Thuần khổ không chút vui,
Có sanh ắt có diệt,
Xa lìa dứt bụi nhơ,
Nhổ gốc gai kết sử,
Đẳng giác gọi là Phật.
(101). “Nếu bảo rằng chẳng phải
Trời, chẳng phải Rồng… cho đến chẳng phải Nhân, chẳng phải Phi nhân, vậy thì
Ngài là ai?”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:
Trời, Rồng, Càn-thát-bà,
Khẩn-na-la, Dạ-xoa,
A- tu-la không
lành,
Những La-hầu-la-già,
Nhân cùng chẳng phải Nhân,
Đều do phiền não sanh.
Lậu hoặc phiền não này,
Tất cả, Ta đã bỏ,
Đã phá, đã diệt sạch,
Như hoa Phân-đà-lợi,
Tuy sanh từ trong nước,
Nhưng chưa từng dính nước.
Ta tuy sanh thế gian,
Chẳng bị nhiễm thế gian,
Nhiều kiếp thường lựa chọn,
Thuần khổ không chút vui.
Tất cả hành hữu vi,
Thảy đều bị sanh diệt,
Trừ nhơ, không lay động,
Đã nhổ sạch gai góc,
Cùng tột bờ sanh tử,
Cho nên gọi là Phật.
6. Mười hiệu
(349). “Thiện lai Tỳ-kheo! Nếu
khéo xuất gia, khéo được lợi mình, thì trong thời gian lâu dài lúc nào cũng được
sanh ra chỗ có bậc Thánh, các căn đầy đủ, không ngu, không si, không câm ngọng;
nói hay, nói dở đều có khả năng hiểu nghĩa.
“Ta nay trong đời này là Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Giác,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, nói pháp tịch diệt, Niết-bàn, chánh hướng đúng
Bồ-đề, khéo đến Đẳng chánh giác. Tức là, ‘Cái này có nên cái kia có, cái này
khởi nên cái kia khởi, nghĩa là duyên vô minh có hành, duyên hành có thức… cho
đến tập khởi thành thuần một khối khổ lớn; vô minh diệt thì hành diệt… cho đến
thuần một khối khổ lớn diệt.’
7. Thế
Tôn bị bịnh
(1181). Khi ấy Tôn giả Ưu-ba-ma
làm thị giả. Bấy giờ Thế Tôn đang đau lưng, bảo Tôn giả Ưu-ba-ma:“Thầy cất y bát
xong, đến nhà Bà-la-môn Thiên Tác.” Lúc đó Bà-la-môn Thiên Tác đang ở trong nhà,
sai người chải đầu và cạo râu, sửa tóc cho ông, thấy Tôn giả Ưu-ba-ma đang đứng
ngoài cửa. Thấy rồi ông nói kệ:
Vì sao cạo râu tóc,
Mình khoác Tăng-già-lê;
Đang đứng ngoài cửa đó,
Muốn cầu xin thứ gì?
Tôn giả Ưu-ba-ma nói kệ
đáp:
Đấng Thiện Thệ La-hán,
Bị bệnh phong đau lưng;
Có thứ nước an lạc,
Trị bệnh Mâu-ni chăng?
Lúc ấy, Bà-la-môn Thiên Tác
lấy ra một bát đầy tô, một bình dầu, một bình đường phèn, rồi sai người bưng đi,
cùng bình nước nóng, theo Tôn giả Ưu-ba-ma đến chỗ Thế Tôn. Lấy dầu xoa lên
thân, dùng nước nóng rửa đi, xong đem tô và đường phèn làm nước uống. Sau đó,
bệnh đau lưng Thế Tôn liền được an ổn.
8.
Thế Tôn bị mạ lỵ
(No. 1151~1154)
(No. 1151). Khi ấy có một thiếu niên
A-tu-la đến chỗ Phật, ở trước Phật dùng những lời bất thiện, thô ác, sân si, mạ
lỵ, chỉ trích Phật.
(1152). Bấy giờ, có một thiếu niên Bà-la-môn tên Tân-kỳ-ca, đến
chỗ Phật, ở trước mặt Thế Tôn dùng những lời bất thiện, thô ác, sân si, mạ lỵ,
chỉ trích Phật.
(1153). Tôn đến dưới bóng mát giảng đường, đi kinh hành giữa khoảng đất trống.
Khi ấy có Bà-la-môn Kiện Mạ Bà-la-đậu-bà-giá, đến chỗ Phật, trước mặt Phật thốt
ra những lời thô ác, bất thiện, mạ lỵ, chỉ trích. Thế Tôn kinh hành.
(1154). Một thời
Đức
Phật ở trong giảng đường
Lộc tử mẫu, phía Đông
nước Xá-vệ. Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn
đắp
y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khi ấy có
Bà-la-môn Kiện Mạ Bà-la-đậu-bà-giá,
vừa thấy Thế Tôn liền thốt ra những lời mắng nhiếc, sân si, thô ác, bất thiện;
hốt bụi đất
ném vào Phật. Khi ấy có gió ngược, thổi bụi bay trở lại, bụi này tự phản dính
vào người ông.
9. Ba minh
(No. 885). “Bậc Vô học có Ba minh.
Những gì là ba? Túc mạng trí chứng thông của bậc Vô học, Sanh tử trí chứng thông
của bậc Vô học, Lậu tận trí chứng thông của bậc Vô học.
“Thế nào là Túc mạng chứng trí thông của bậc Vô học? Thánh đệ tử
biết tất cả sự từ những đời trước. Từ một đời đến trăm, ngàn, vạn, ức đời; cho
đến số kiếp thành hoại rằng: ‘Các đời sống trước của ta và chúng sanh, có những
tên như vậy, sanh ra như vậy, dòng họ như vậy, ăn như vậy, chịu khổ vui như vậy,
tuổi thọ dài như vậy, sống lâu như vậy, chịu giới hạn như vậy. Ta và chúng sanh
chết ở chỗ này, sanh ra chỗ khác; chết chỗ khác sanh ra chỗ này, có hành như
vậy, nhân như vậy, tín như vậy.’ Tất cả các việc đã trải qua trong đời sống
trước đều biết rõ ràng. Đó gọi là Trí túc mạng chứng minh.
“Thế nào là Sanh tử trí chứng minh? Thánh đệ tử, bằng thiên nhãn
thanh tịnh vượt qua đối với mắt người, thấy các chúng sanh lúc chết, lúc sanh,
đẹp, xấu, thượng sắc, hạ sắc, theo nghiệp mà thọ sanh vào đường ác. Biết như
thật rằng như chúng sanh này thành tựu thân ác hành, thành tựu miệng, ý ác hành,
hủy báng Thánh nhân, tà kiến, nhận lãnh tà pháp; do nhân duyên này sau khi thân
hoại mạng chung sanh vào trong đường ác địa ngục. Chúng sanh này do thành tựu
thân thiện hành, thành tựu miệng, ý thiện hành, không hủy báng Thánh nhân, đã
thành tựu chánh kiến, nên sau khi thân hoại mạng chung sanh vào trong đường
Trời, Người. Đó gọi là Trí sanh tử chứng minh.
“Thế nào là Lậu tận trí chứng minh? Thánh đệ tử biết như thật,
‘Đây là Khổ’, ‘Đây là Khổ tập’, ‘Đây là Khổ diệt’, ‘Đây là Khổ diệt đạo.’ Vị ấy
biết như vậy, thấy như vậy, tâm giải thoát Dục hữu lậu, tâm giải thoát Hữu hữu
lậu, tâm giải thoát Vô minh lậu, với giải thoát tri kiến, biết rằng, ‘Ta, sự
sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm xong, tự biết không còn
tái sanh đời sau nữa.’ Đó gọi là Lậu tận chứng trí minh.”
10. Sự dị biệt giữa
Phật và ngoại đạo về 3 minh
(No. 886). Bấy giờ có Bà-la-môn đi
đến chỗ Phật gặp Thế Tôn, sau khi thăm hỏi nhau rồi, ngồi lui qua một bên và
nói: “Đây là ba minh của Bà-la-môn. Đây là ba minh của Bà-la-môn!”
Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bà-la-môn rằng: “Thế nào gọi là ba minh của
Bà-la-môn?”
Bà-la-môn bạch Phật rằng: “Thưa Cù-đàm, cha mẹ Bà-la-môn đầy đủ
các tướng, không có các tì vết; cha mẹ bảy đời truyền thừa mà không bị chê bai;
đời đời kế thừa nhau, luôn làm sư trưởng, biện tài đầy đủ; đọc tụng các kinh
điển, danh tự của loại vật, phẩm loại sai biệt của vạn vật; lịch sử cổ kim, năm
thứ ký này, tất cả đều được thông suốt; dung sắc đoan chánh. Thưa Cù-đàm, đó gọi
là ba minh của Bà-la-môn.”
Phật bảo Bà-la-môn: “Ta không lấy ngôn thuyết, danh tự làm ba
minh. Pháp môn của Hiền thánh nói ba minh chân thật là tri kiến Hiền thánh, pháp
luật Hiền thánh. Đó là ba minh chân thật.”
Bà-la-môn bạch Phật: “Như thế nào, thưa Cù-đàm, nói tri kiến
Hiền thánh, pháp luật Hiền thánh là ba minh?”
Phật bảo Bà-la-môn: “Có ba loại ba minh của bậc Vô học. Những gì
là ba? Túc mạng chứng trí minh của bậc Vô học, sanh tử chứng trí minh của bậc Vô
học, lậu tận chứng trí minh của bậc Vô học.”
Như đã nói đầy đủ ở kinh 885
11. Tình cảm các Tỷ kheo,
cư sĩ đối với Phật
(No. 860). “Bạch Thế Tôn, hôm nay
toàn thân thể con rã rời, bốn phương đổi dời; tất cả mọi ức niệm, nay đều mờ mịt
quên hết, không biết lúc nào sẽ được gặp lại Phật cùng các Tỳ-kheo tri thức?
Hôm nay Thế Tôn ra đi đến Câu-tát-la; từ Câu-tát-la đến Ca-thi; từ Ca-thi
đến Ma-la; từ Ma-la đến Ma-kiệt-đà; từ Ma-kiệt-đà đến Ương-già, từ Ương-già đến
Tu-ma; từ Tu-ma đến Phân-đà-la; từ Phân-đà-la đến Ca-lăng-già. Cho nên hôm nay
con vô cùng khổ não, không biết lúc nào được gặp lại Thế Tôn cùng các Tỳ-kheo
tri thức.”
Phật bảo Lê-sư-đạt-đa cùng Phú-lan-na: “Các người dù có gặp Như Lai hay chẳng
gặp Như Lai, dù có gặp các Tỳ-kheo tri thức hay chẳng gặp, thì các người cũng
nên tùy thời mà tu tập sáu niệm. Những gì là sáu niệm? Các người hãy niệm Như
Lai sự, nói đầy đủ… cho đến niệm Thiên. Nhưng này các gia chủ! Vì tại gia thì
rối rắm, tại gia thì đắm nhiễm. Còn xuất gia thì vô sự, nhàn nhã, nên khó cho
người thế tục có thể sống không gia đình, một mực thanh khiết, hoàn toàn trong
sạch, phạm hạnh thanh bạch.”
Gia chủ bạch Phật: “Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, Ngài khéo nói pháp này. Vì tại
gia thì rối rắm, tại gia thì đắm nhiễm. Còn xuất gia thì vô sự, nhàn nhã, nên
khó cho người thế tục có thể sống không gia đình, một mực thanh khiết, hoàn toàn
trong sạch, phạm hạnh thanh bạch. Con là đại thần của vua Ba-tư-nặc. Khi vua
Ba-tư-nặc lúc muốn dạo viên quán, sai con cỡi voi lớn chở các cung nữ được sủng
ái nhất của vua. Một ngồi trước con, một sau con, con ngồi ở giữa. Khi voi xuống
đồi, người ở trước choàng vào cổ con, người sau ôm lưng con; khi voi lên đồi,
người sau bám lấy gáy con, người trước vít lấy áo con.
“Các thể nữ này vì muốn chiếm lòng vui thích của nhà vua nên mặc xiêm y lụa là
sặc sỡ, trang điểm bằng anh lạc và các loại hương vi diệu. Lúc cùng dạo chơi con
luôn luôn giữ ba điều: Một là điều khiển voi, sợ rằng lạc mất đường chính; hai
tự giữ tâm mình, sợ rằng sẽ sanh ra đắm nhiễm; ba tự giữ gìn, sợ rằng sẽ bị rơi
ngã. Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ, đối với các thể nữ của vua, con không giây phút
nào là không chánh tư duy.”
12. 4
thánh quả
(No. 61). “Này các Tỳ-kheo, nếu
đối với pháp này mà dùng trí tuệ tư duy, quán sát, phân biệt, nhẫn thọ, đó gọi
là tùy tín hành, siêu thăng, ly sanh, vượt qua khỏi địa vị phàm phu. Nếu chưa
đạt được quả Tu-đà-hoàn, mà nửa chừng không chết, thì chắc chắn sẽ đạt được quả
Tu-đà-hoàn.
“Này các Tỳ-kheo, nếu đối với pháp này, mà bằng tăng thượng trí
tuệ, tư duy quán sát, nhẫn thọ, thì đó gọi là tùy pháp hành, siêu thăng, ly
sanh, vượt qua khỏi địa vị phàm phu. Nếu chưa đạt được quả Tu-đà-hoàn, mà nửa
chừng không chết, thì chắc chắn sẽ đạt được quả Tư-đà-hoàn.
“Này Tỳ-kheo, đối với pháp này nếu bằng trí tuệ chân chánh mà
quán sát như thật, ba kết được biết là hoàn toàn đoạn trừ; đó là, thân kiến,
giới thủ, nghi. Tỳ-kheo, đó gọi là quả Tu-đà-hoàn, sẽ không rơi vào đường ác,
quyết định thẳng đến Chánh giác, bảy lần sanh qua lại giữa trời, người, cuối
cùng sẽ cứu cánh biên tế của khổ.
“Này Tỳ-kheo, nếu đối với pháp này nếu dùng trí tuệ chân chánh
mà quán sát như thật, tâm sẽ không khởi lên lậu hoặc, thì gọi là A-la-hán. Khi
các lậu đã sạch rồi, thì những gì cần làm đã làm xong, trút bỏ gánh nặng, đạt
được mục đích của mình, các kết sử hữu dứt sạch, chánh trí, tâm đạt được giải
thoát.”
(No. 796). “Có pháp Sa-môn và quả
Sa-môn. Hãy lắng nghe và suy nghĩ cho kỹ, Ta sẽ vì các ông mà nói: “Những
gì là pháp Sa-môn? Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến… cho đến chánh định. Những
gì là quả Sa-môn? Đó là quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm và quả
A-la-hán.”
(No. 1040). Thế nào là pháp xả của Bà-la-môn?”
Bà-la-môn bạch Phật: “Thưa Cù-đàm, cứ vào ngày mười lăm, gội đầu, giữ gìn trai
pháp, đeo tràng hoa dài, khoác áo lụa trắng, tay cầm cỏ tươi, tùy khả năng mà bố
thí, làm phước. Thưa Cù-đàm, đó gọi là Bà-la-môn tu tập hạnh xả.”
Phật bảo Bà-la-môn: “Những thực hành về hạnh xả theo pháp luật của Hiền thánh
thì khác ở đây.”
Bà-la-môn bạch Phật: “Thưa Cù-đàm, vậy sở hành về hạnh xả theo pháp luật của
Hiền thánh như thế nào?”
Phật bảo Bà-la-môn: “Lìa sát sanh, không thích sát sanh. Nói đầy đủ như phần
thanh tịnh ở trước. Y nơi sự không sát sanh, lìa bỏ sát sanh... cho đến
nói đầy đủ như phần thanh tịnh ở trước. Lìa trộm cướp, không thích trộm cướp, y
nơi sự không trộm cướp, lìa bỏ sự lấy vật không cho. Lìa tà dâm, không thích tà
dâm, y nơi sự không tà dâm, bỏ việc phi phạm hạnh. Lìa vọng ngữ, không thích
vọng ngữ, y nơi sự không nói dối, xả bỏ lời nói không thật. Lìa hai lưỡi, không
thích nói hai lưỡi, y nơi sự không nói hai lưỡi, xả bỏ hành ly gián. Lìa ác
khẩu, không thích ác khẩu, y nơi sự không ác khẩu, bỏ lời thô ác. Lìa lời thêu
dệt, không thích lời thêu dệt, y nơi sự không nói thêu dệt, bỏ lời vô nghĩa.
Đoạn trừ tham dục, xa lìa khổ tham, y tâm không tham, xả bỏ ái trước. Đoạn trừ
sân nhuế, không sanh phẫn hận, y không giận, xả bỏ sân hận. Tu tập chánh kiến,
không khởi điên đảo, y chánh kiến, xả bỏ tà kiến.
(No. 618).
Đối với bốn Niệm xứ mà tu tập, tu tập nhiều, sẽ đạt được bốn quả Thánh và, bốn
loại phước lợi, đó là: Quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả
A-la-hán.”
(No. 1129). Có bốn quả Sa-môn.
Những gì là bốn? Quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Thế nào là quả
Tu-đà-hoàn? Đoạn trừ ba kết gọi là Tu-đà-hoàn. Thế nào là quả Tư-đà-hàm? Đoạn
trừ ba kết, tham, sân, si vơi mỏng, gọi là Tư-đà-hàm. Thế nào là quả A-na-hàm?
Đoạn dứt năm hạ phần kết sử, gọi là quả A-na-hàm. Thế nào là quả A-la-hán? Nếu
người nào dứt sạch tham dục, sân nhuế, ngu si và tất cả phiền não gọi là
A-la-hán.”
13. Pháp hữu lậu và vô lậu
(No. 56). Nay Ta sẽ nói về pháp
hữu lậu và vô lậu. “Thế nào là pháp hữu lậu? Nếu sắc là pháp hữu lậu, bị chấp
thủ; sắc sanh ra ái và nhuế. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là pháp hữu lậu,
bị chấp thủ; thức kia sanh ra ái và nhuế. Đó gọi là pháp hữu lậu.
“Thế nào là pháp vô lậu? Những gì sắc vô lậu, không bị chấp thụ;
sắc kia hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai, sắc kia không sanh ái, nhuế.
Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là vô lậu, không chấp thủ; thức kia hoặc quá
khứ, hoặc hiện tại, hoặc vị lai, không sanh ái, nhuế. Đó gọi là pháp vô lậu.”
(No. 229). “Nay Ta sẽ nói về pháp
hữu lậu và pháp vô lậu. Vậy, thế nào là pháp hữu lậu? Sắc, nhãn thức và cảm thọ
với khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi
nhân duyên nhãn xúc. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp, ý thức, ý xúc và cảm thọ với
khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi
nhân duyên ý xúc; thuộc thế tục, nên gọi là pháp hữu lậu.
“Thế nào là pháp vô lậu? Là vượt ra ngoài thế gian ý, hoặc pháp,
ý thức, ý xúc và cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ và phi khổ phi lạc thọ được cảm
thọ bên trong phát sanh bởi nhân duyên ý xúc, thuộc xuất thế gian, nên gọi là
pháp vô lậu.”
(No. 1176). Bấy giờ, Đại
Mục-kiền-liên nói với các Tỳ-kheo: “Pháp của Thế Tôn đã dạy, khoảng đầu, khoảng
giữa, khoảng cuối đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thuần nhất, mãn tịnh, thanh
bạch, phạm hạnh. Hôm nay, tôi sẽ nói về pháp hữu lậu và vô lậu. Các ông hãy lắng
nghe.
“Thế nào là pháp hữu lậu? Phàm phu ngu si vô học, khi mắt thấy
sắc rồi, với sắc đáng nhớ khởi lên ưa đắm, với sắc không đáng nhớ khởi lên chán
ghét, không trụ vào thân niệm xứ, không có một phần trí đối với tâm giải thoát
và tuệ giải thoát; đủ các thứ pháp ác bất thiện khởi lên, không được hoàn toàn
diệt trừ, không vĩnh viễn hoàn toàn đoạn tận. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý
lại cũng như vậy. Này Tỳ-kheo, người như vậy Thiên ma Ba-tuần sẽ đến chỗ họ để
dò xét những chỗ yếu kém tai hại, ở nơi mắt thấy sắc, mà nắm chỗ được sơ hở. Đối
với tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi niếm vị, thân với xúc, ý với pháp cũng
lại như vậy, liền nắm được chỗ sơ hở. Giống như đống cỏ khô, nổi lửa bốn bên, bị
cháy tiêu tức thì. Cũng vậy, Tỳ-kheo, ở nơi sắc được nhận thức bởi mắt của
Tỳ-kheo, Thiên ma Ba-tuần liền nắm được chỗ sơ hở. Cũng vậy, Tỳ-kheo, không
thắng ở nơi sắc. Tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối
với xúc, ý đối với pháp, … đối với bị pháp chế phục, không thắng được pháp.
Không thắng sắc, không thắng âm thanh, mùi thơm, vị ngọt, xúc chạm và pháp. Cũng
lại không thắng ý, cùng các pháp ác bất thiện phiền não, thiêu bức, khổ báo và
sẽ bị sanh, già, bệnh, chết ở đời vị lai. Chư Tôn giả, Ta đã tự thân nhận lãnh
các pháp hữu lậu này từ Đức Thế Tôn. Đó gọi là ‘kinh Pháp Hữu Lậu’.
“Thế nào là pháp vô lậu? Thánh đệ tử đa văn mắt thấy sắc, đối
với sắc đáng nhớ không khởi ưa đắm, với sắc không đáng nhớ không khởi chán ghét,
cột niệm an trụ, vô lượng tâm giải thoát, tuệ giải thoát, biết một cách như
thật. Các pháp ác bất thiện đã khởi kia bị diệt tận không dư tàn. Tai, mũi,
lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Tỳ-kheo như vậy, ác Ma Ba-tuần có đến dò xét tìm
sở đoản nơi sắc được thấy bởi mắt, cũng không thể tìm được sở đoản. Tai đối với
tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp, để
tìm cầu chỗ yếu kém, cũng không tìm được chỗ yếu kém đó. Giống như lầu các, nếu
tường vách kiên cố, cửa ngõ nhiều lớp đóng, lấp dày kín, dù đốt lửa bốn bên cũng
không thể cháy được. Các Tỳ-kheo này cũng lại như vậy, dù Ma Ba-tuần đến chỗ dò
xét để tìm tòi chỗ yếu cũng không thể tìm được. Tỳ-kheo như vậy, có thể thắng
được sắc kia, không bị sắc chiết phục. Và thắng được tiếng, mùi, vị, xúc và pháp
không bị những pháp ấy chiết phục. Nếu thắng được sắc, tiếng, mùi, vị, xúc, pháp
rồi thì cũng thắng luôn đối với những pháp ác bất thiện, phiền não, khổ báo dẫy
đầy, cùng sanh, già, bệnh, chết đời vị lai. Tự thân tôi nhận được pháp này từ
Đức Thế Tôn. Đó gọi là ‘kinh Pháp Vô Lậu’.”
14. Thế nào là nhập lưu
(No. 843). Bấy giờ, Đức Thế Tôn
bảo Tôn giả Xá-lợi-phất: “Bảo là dòng; thế nào là dòng?”
Xá-lợi-phất bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nói là dòng, đó là nói tám
Thánh đạo.”
Lại hỏi Xá-lợi-phất: “Gọi là Nhập lưu phần, vậy thế nào là Nhập
lưu phần?”
Xá-lợi-phất bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, có bốn thứ Nhập lưu phần
Những gì là bốn? Thân cận thiện nam tử, nghe Chánh pháp, bên trong tư duy chân
chánh, hướng đến pháp và thứ pháp.”
Lại hỏi Xá-lợi-phất: “Người Nhập lưu phải thành tựu bao nhiêu
pháp?”
Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: “Có bốn phần để người Nhập lưu thành
tựu. Những gì là bốn? Bất hoại tịnh đối với Phật, bất hoại tịnh đối với Pháp,
bất hoại tịnh đối với Tăng, thành tựu Thánh giới.”
Phật bảo Xá-lợi-phất: “Như những gì ông đã nói, dòng tức là tám
Thánh đạo. Nhập lưu phần có bốn pháp là thân cận thiện nam tử, nghe chánh pháp,
bên trong tư duy chân chánh, hướng đến pháp và thứ pháp. Người
Nhập lưu thành tựu bốn pháp, là bất hoại tịnh
đối với Phật, bất
hoại tịnh đối với Pháp, bất hoại tịnh đối với Tăng, thành tựu
Thánh giới.”
(No. 844). Xá-lợi-phất hỏi Tôn giả
A-nan: “Do đoạn được bao nhiêu pháp, mà với Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác,
bậc Tri giả, Kiến giả, ký thuyết rằng người kia đắc Tu-đà-hoàn, không đọa vào
pháp đường ác, quyết định hướng đến Chánh giác, chỉ còn bảy lần qua lại Trời,
Người, rốt ráo thoát khổ?”
Tôn giả A-nan thưa Tôn giả Xá-lợi-phất: “Do đoạn được bốn pháp và thành tựu được
bốn pháp mà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác ký thuyết cho người kia đắc
Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào pháp đường ác, quyết định hướng đến Chánh giác,
chỉ còn bảy lần qua lại Trời, Người, mới rốt ráo hết khổ. Những gì là bốn? Thánh
đệ tử trụ tâm bất tín đối với Phật đã được đoạn, đã biến tri, thành tựu bất hoại
tịnh đối với Phật. Bất tín đối với Pháp, Tăng và ác giới đã đoạn, đã biến tri,
thành tựu bất hoại tịnh đối với Pháp, Tăng và thành tựu được Thánh giới. Như
vậy, do đoạn trừ bốn pháp và thành tựu bốn pháp mà Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác, bậc Tri giả, Kiến giả, ký thuyết cho người kia đắc Tu-đà-hoàn, không đọa
vào pháp đường ác, quyết định hướng đến Chánh giác, chỉ còn bảy lần qua lại
Trời, Người, mới rốt ráo thoát khổ.”
(No. 845). Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu Tỳ-kheo dập tắt được năm sợ hãi và oán thù, được ba pháp quyết định, chẳng
sanh nghi hoặc, tri kiến như thật về chánh đạo của bậc Hiền thánh; vị Thánh đệ
tử này có thể tự ký thuyết rằng đã diệt tận các đường ác địa ngục, ngạ quỷ và
súc sanh, đắc Tu-đà-hoàn, không còn bị rơi vào pháp đường ác, hướng thẳng đến
Chánh giác, chỉ còn bảy lần qua lại Trời, Người, rốt ráo thoát khổ.
“Thế nào là dập tắt
năm điều sợ hãi và oán thù? Nếu sợ hãi phát sanh do nhân duyên oán
thù của tội sát sanh; người ấy tránh xa sự sát sanh, thì sợ hãi phát sanh do
nhân duyên oán thù của tội sát sanh được dập tắt. Nếu sợ hãi phát sanh do nhân
duyên oán thù của tội trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu; người ấy tránh xa
trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, thì sợ hãi phát sanh do nhân duyên oán thù
của tội trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu được dập tắt. Đó gọi là sự chấm dứt
năm điều sợ hãi phát sanh ra từ nhân duyên oán thù của các tội trên.
“Thế nào là ba pháp quyết định không sanh ra nghi hoặc? Là đối với Phật quyết
định lìa nghi hoặc, đối với Pháp và Tăng quyết định lìa nghi hoặc. Đó gọi là ba
pháp quyết định lìa nghi hoặc.
15. A la Hán
(No. 75). “Có năm thọ ấm. Đó là,
sắc thọ ấm. Tỳ-kheo đối với sắc nhàm tởm, ly dục, tịch diệt, không làm sanh
khởi, giải thoát. Đó gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Cũng vậy, thọ,
tưởng, hành, thức; nhàm tởm, ly dục, tịch diệt, không làm sanh khởi, giải thoát.
Đó gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.
“Lại nữa, Tỳ-kheo, đối với sắc nhàm tởm, ly dục, tịch diệt,
không làm sanh khởi, giải thoát. Đó gọi là A-la-hán tuệ giải thoát. Cũng vâïy,
thọ, tưởng, hành, thức; nhàm tởm, ly dục, tịch diệt, không làm sanh khởi, giải
thoát. Đó gọi là A-la-hán tuệ giải thoát.
(No. 490). “Nói là A-la-hán. Thế nào là A-la-hán?”
Xá-lợi-phất đáp: “Khi tham dục, sân nhuế, ngu si đã vĩnh viễn diệt tận không còn
sót, đó gọi là A-la-hán.”
Lại hỏi: “Có con đường nào, có sự thực hành nào mà tu tập, tu tập nhiều, thì
chứng đắc A-la-hán không?”
Xá-lợi-phất đáp: “Có. Đó là tám Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định.”
16. A la Hán và vấn đề lậu hoặc
(No. 103). ...Tỳ-kheo Sai-ma nói
với Tỳ-kheo Đà-sa rằng:
“Tôi có thể quán sát năm thọ ấm là không phải ngã, không phải
ngã sở; nhưng chẳng phải là A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc.”
Tỳ-kheo Đà-sa trở lại chỗ các Thượng tọa, bạch với các Thượng
tọa, Tỳ-kheo Sai-ma nói, ‘Tôi có thể quán sát năm thọ ấm là không phải ngã,
không phải ngã sở; nhưng chẳng phải là A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc.’”...
17. A la Hán
sau khi thân hoại mạng chung không còn gì
(No. 104). Một thời, Phật ở tại
vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo tên là
Diệm-ma-ca khởi tà kiến ác nói rằng: ‘Theo chỗ hiểu của tôi về những pháp mà
Phật đã thuyết giảng, thì vị A-la-hán lậu tận, sau khi thân hoại mạng chung sẽ
không còn gì nữa.’…
(No. 105). Phật bảo Tiên-ni: “Các
đệ tử của Ta nghe những gì Ta đã nói mà không hiểu nghĩa lý để khởi vô gián đẳng
đối với mạn. Vì phi vô gián đẳng nên mạn không bị đoạn trừ. Vì không dứt trừ
được mạn, nên khi bỏ ấm này thì ấm khác tiếp nối sinh. Do vậy, này Tiên-ni, Ta
ký thuyết cho các đệ tử, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào chỗ này hay
chỗ kia. Vì sao? Vì mạn còn sót lại.
“Này Tiên-ni, các đệ tử của Ta đối với những gì Ta đã nói, có
khả năng hiểu rõ, thì đối với các mạn mà đạt được vô gián đẳng. Nhờ đạt được vô
gián đẳng nên các mạn dứt trừ; vì các mạn được dứt trừ nên sau khi thân hoại
mạng chung sẽ không còn có tương tục. Này Tiên-ni, những người đệ tử này, Ta
không bảo là khi bỏ ấm này rồi, họ sẽ sinh vào chỗ này hay chỗ kia. Vì sao? Vì
không có nhân duyên để có thể ký thuyết. Nếu muốn Ta ký thuyết, Ta sẽ ký thuyết
rằng, họ đã đoạn trừ các ái dục, vĩnh viễn xa lìa kết sử hữu, chánh ý giải
thoát, tận cùng mé khổ. Từ xưa tới nay và ngay trong hiện tại, Ta thường nói,
mạn quá, mạn tập, mạn sanh, mạn khởi; nếu đối với mạn mà thường xuyên quán sát
thì các khổ sẽ không sanh.”
Khi Phật nói pháp này, Tiên-ni Sa-môn ngoại đạo, xa lìa trần
cấu, được mắt pháp trong sạch. Bấy giờ, Tiên-ni thấy pháp, đắc pháp, đoạn trừ
các nghi hoặc, không do người khác mà biết, không do người khác để được độ
thoát. Ở trong Chánh pháp, tâm đạt được vô sở úy. Ông từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp
tay bạch Phật
18. Sự dị biệt giữa A la Hán
và Như Lai
(No. 75). “Này Tỳ-kheo, Như Lai,
Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác và A-la-hán tuệ giải thoát có sự sai biệt nào?”
....Phật bảo các Tỳ-kheo: “Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ
vì các ông mà nói. “Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác chưa từng nghe pháp nhưng
có thể tự mình giác ngộ pháp, tự thông đạt Vô thượng Bồ-đề, rồi để giác ngộ cho
hàng Thanh văn trong đời vị lai mà nói pháp, đó là, bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần,
bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám Thánh đạo. Này các Tỳ-kheo,
đó gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đạt được những gì chưa đạt, được
những cái lợi chưa từng được lợi, biết đạo, phân biệt đạo, nói đạo, thông suốt
đạo; lại có thể thành tựu cho các Thanh văn, truyền dạy, răn bảo; như vậy mà
thuận theo thiện pháp, hoan hỷ thiện pháp. Đó gọi là sự sai biệt giữa Như Lai và
A-la-hán.”
(No. 498). “Bạch Thế Tôn, con tin
sâu xa về Thế Tôn rằng, trí tuệ của các Sa-môn, Bà-la-môn dù là quá khứ, vị lai
hay hiện tại cũng không bằng sự giác ngộ của Thế Tôn, huống lại là hơn!”
(No. 684). “Nếu Tỳ-kheo, đối với
sắc sanh tâm yểm ly, ly dục, diệt tận, không sanh khởi, giải thoát; đó gọi là
A-la-ha Tam-miệu-tam Phật-đà. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng nói như vậy.
Lại, nếu Tỳ-kheo nào đối với sắc sanh tâm yểm ly, ly dục không sanh khởi, giải
thoát; đó gọi là A-la-hán tuệ giải thoát. Đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng
nói như vậy.
“Này các Tỳ-kheo, giữa Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác và
A-la-hán tuệ giải thoát có những gì sai khác?”
Các Tỳ-kheo bạch Phật: “Thế Tôn là gốc của pháp, là mắt của
pháp, là nơi y cứ của pháp, xin vì chúng con mà nói, các Tỳ-kheo sau khi nghe
xong sẽ lãnh thọ, phụng hành.”
Phật bảo các Tỳ-kheo: “Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ! Ta sẽ vì
các ông mà nói. Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đối với pháp trước kia chưa
nghe, thì có thể tự giác tri, ngay trong đời hiện tại tự thân chứng ngộ, thành
Chánh giác; đối với đời vị lai có thể giảng nói Chánh pháp, giác ngộ các Thanh
văn; tức là, bốn Niệm xứ, bốn Chánh đoạn, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy
Giác phần, tám Thánh đạo phần. Đó gọi là Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác đối
với pháp chưa chứng đắc thì có thể sẽ chứng đắc; phạm hạnh chưa chế có thể chế;
có thể khéo biết đạo, khéo nói đạo, vì chúng sanh mà dẫn đường. Sau đó, Thanh
văn thành tựu tùy thuận pháp, tùy thuận đạo, vui thích vâng lời giáo giới, giáo
thọ của Đại Sư, nên khéo thâm nhập Chánh pháp. Đó gọi là những sự sai khác giữa
Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác và A-la-hán tuệ giải thoát.
19. Kẻ sát nhân
Ương Cù Lợi Ma La vẫn chứng A la hán
(No. 1077). Một thời Đức Phật trú
tại nước Ương-cù-đa-la du hành nhân gian. Khi đi qua trong rừng Đà-bà-xà-lê-ca,
Ngài gặp những người chăn bò, người chăn dê, người nhặt củi, cỏ và các người làm
việc khác. Họ trông thấy Thế Tôn đang đi trên đường, đều vội vàng bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, chớ đi theo con đường này. Phía trước có tên cướp
Ương-cù-lợi-ma-la chuyên môn khủng bố người.”
Đức Phật nói với các người này: “Ta không sợ.”
Nói xong, Ngài cứ theo đường mà đi. Họ nói ba lần, Đức Phật vẫn
cứ đi. Từ xa Phật trông thấy Ương-cù-lợi-ma-la, tay cầm dao chạy thẳng đến. Thế
Tôn dùng thần lực hiện thân đi từ từ khiến cho Ương-cù-lợi-ma-la chạy như bay
cũng không kịp. Chạy theo đến mệt đuối, Ương-cù-lợi-ma-la từ xa nói với Thế Tôn:
“Đứng lại, đứng lại, chớ đi!”
Thế Tôn vừa đi vừa đáp: “Ta luôn dừng. Ngươi không tự dừng đó
thôi.”
Lúc ấy Ương-cù-lợi-ma-la nói kệ:
Sa-môn vẫn rảo nhanh,
Lại nói ‘Ta luôn dừng.’
Nay tôi mệt, dừng nghỉ.
Sao nói ‘Ngươi chẳng dừng’?
Ương-cù-lợi-ma-la sau khi xuất gia, thường một mình ở chỗ vắng,
chuyên tâm tư duy lý do khiến thiện gia nam tử cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa,
chánh tín xuất gia, học đạo, sống không nhà, tinh tấn tu phạm hạnh, hiện tại tự
biết tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm
xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’ Lúc ấy Ương-cù-lợi-ma-la đắc quả
A-la-hán, giác ngộ, giải thoát, hỷ lạc, Tôn giả liền nói kệ:...
20.
1000 vị A la hán
(No. 1219). Một thời, Đức Phật ở
trên sườn núi Na-già, thành Vương xá, cùng với một nghìn Tỳ-kheo đều là bậc
A-la-hán, hết sạch các hữu lậu, việc cần làm đã làm xong, đã lìa các gánh nặng,
đã được lợi mình, hết các hữu kết, chánh trí, tâm khéo giải thoát. Bấy giờ, Tôn
giả Bà-kỳ-xá đang ở giữa nghĩa địa trong Hàn lâm, thành Vương xá, suy nghĩ rằng:
‘Nay Thế Tôn đang ở trên sườn núi Na-già, thành Vương xá cùng với một nghìn
Tỳ-kheo đều là bậc A-la-hán, hết các hữu lậu, việc cần làm đã làm xong, đã lìa
các gánh nặng, chóng được lợi mình, hết các hữu kết, chánh trí, tâm khéo giải
thoát.
21.
Thân bịnh khổ mà tâm không bịnh khổ
(No. 107). Thế nào là thân bị bệnh
khổ mà tâm không bị bệnh khổ? Đa văn Thánh đệ tử biết như thật về sự tập khởi
của sắc, về sự diệt tận của sắc, về vị ngọt của sắc, về sự tai hại của sắc, về
xuất ly của sắc. Khi đã biết như thật rồi thì không sanh ra ái lạc, thấy sắc là
ngã, hay ngã sở. Sắc này nếu biến dịch hay đổi khác đi nữa, thì tâm cũng không
thay đổi theo mà sanh ra khổ não. Khi tâm đã không biến chuyển theo mà sanh ra
khổ não rồi, thì được sự không sợ hãi, chướng ngại, tiếc nuối, lo nghĩ, buồn
khổ, tham luyến. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Đó gọi là thân
bị bệnh khổ mà tâm không bị bệnh khổ.”
22. Thế nào gọi là Niết-bàn
(No. 34). “Này Tỳ-kheo, đa văn
Thánh đệ tử đối với năm thọ ấm này, hãy quán sát như thật, thấy chẳng phải ngã,
chẳng phải ngã sở. Quán sát như vậy, đối với thế gian đều không có gì để thủ. Vì
không có gì để thủ, nên không có gì để đắm trước. Vì không có gì để đắm trước,
cho nên tự giác ngộ Niết-bàn: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì
cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
(No. 35). “Lành thay! Lành thay! Sắc là vô thường,
là pháp biến dịch, yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh. Sắc như vậy từ xưa tới
nay, tất cả đều là pháp vô thường, khổ, biến dịch. Khi đã biết như vậy rồi, thì
tất cả các lậu, hại, xí nhiên, ưu não đã từng duyên vào sắc này mà sanh ra, thảy
đều bị đoạn diệt. Khi đã đoạn diệt rồi, thì không còn gì để chấp trước. Khi đã
không còn gì để chấp trước rồi, thì sống an lạc. Khi đã sống an lạc rồi, thì đạt
được Bát-niết-bàn. Đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy.”
(No. 61). “Thế nào là sắc thọ ấm?
Những gì là sắc, tất cả chúng đều là bốn đại và sắc do bốn đại tạo. Đó gọi là
sắc thọ ấm. Lại nữa, sắc kia là vô thường, khổ, là pháp biến dịch. Nếu sắc thọ
ấm này vĩnh viễn bị đoạn trừ không dư tàn, rốt ráo xả ly, diệt tận, ly dục, tịch
diệt, các sắc thọ ấm khác không tương tục, không xuất hiện, không khởi lên, thì
đó gọi là vi diệu, cũng gọi là tịch tĩnh, cũng gọi là xả ly tất cả hữu dư, ái
tận, vô dục, diệt tận, Niết-bàn.
(No. 490). “Nói là Niết-bàn; thế
nào là Niết-bàn?”
Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: “Niết-bàn là sự đoạn tận vĩnh viễn của
tham dục; sự đoạn tận vĩnh viễn sân nhuế, ngu si; sự đoạn tận vĩnh viễn của tất
cả các phiền não. Đó gọi là Niết-bàn.”
23.
Hiện tại Niết-bàn
(No. 28). Bạch Thế Tôn, như Thế
Tôn nói ‘chứng đắc Niết-bàn ngay trong hiện tại.’ Vậy, thế nào là Tỳ-kheo chứng
đắc Niết-bàn ngay trong hiện tại?”....
“Đối với sắc mà sanh tâm yểm ly, ly dục, diệt tận, không khởi
lên các lậu, tâm giải thoát chân chánh, thì đó gọi là Tỳ-kheo chứng đắc Niết-bàn
ngay trong hiện tại. Cũng vậy, đối với thọ, tưởng, hành, thức mà sanh tâm yểm
ly, ly dục, diệt tận, không khởi lên các lậu, tâm giải thoát chân chánh, thì đó
gọi là Tỳ-kheo chứng đắc Niết-bàn ngay trong hiện tại.”
(No. 42). “Có bảy xứ thiện với ba
phương pháp quán nghĩa, hoàn toàn ở trong trong pháp này mà chứng đắc lậu tận,
đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này mà tự tri, tự thân
chứng ngộ cụ túc và an trụ, biết rằng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập,
những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’
24. Con đường hướng đến Niết bàn
(No. 220). “Có con đường tương tợ đưa đến
Niết-bàn. Vậy, thế nào là con đường tương tợ đưa đến Niết-bàn? Quán sát mắt
chẳng phải ngã. Quán sát sắc, nhãn thức và cảm thọ với khổ thọ, lạc thọ và phi
khổ phi lạc thọ được cảm thọ bên trong phát sanh bởi nhân duyên nhãn xúc, chúng
cũng được quán sát là vô thường[.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Đó gọi là con đường tương tợ
đưa đến Niết-bàn.”
25. Các loại Niết
bàn
(No. 866 giống Kinh 868). “Nếu
Tỳ-kheo, với hành, hoặc hình, hay tướng, ly dục, ly pháp ác bất thiện, có giác,
có quán có hỷ lạc do viễn ly sanh, chứng và an trụ Sơ thiền; vị ấy không nhớ
nghĩ hành như vậy, hình như vậy, tướng như vậy. Nhưng đối với sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, vị ấy tư duy như là bệnh, như ung nhọt, như gai nhọn, như sát hại,
là vô thường, khổ, không, vô ngã. Đối với những pháp này mà sanh tâm nhàm chán,
sợ hãi, phòng hộ. Do nhàm chán, xa lìa, phòng hộ, bằng cửa cam lộ mà tự làm lợi
ích cho mình. Đây là tịch tĩnh, đây là thắng diệu, tức là xả ly tất cả hữu dư,
ái tận, vô dục, diệt tận, Niết-bàn.”
“Nếu không được giải thoát, nhưng do pháp kia, dục pháp, niệm
pháp, lạc pháp, nên thủ Trung Bát-niết-bàn; hoặc không như vậy, thì thủ Sanh
Bát-niết-bàn; hoặc không như vậy, thì thủ Hữu hành Bát-niết-bàn; hoặc không như
vậy, thủ Vô hành Bát-niết-bàn; hoặc không như vậy, thì Thượng lưu Bát-niết-bàn.
Hoặc không như vậy, do dục pháp, niệm pháp, lạc pháp, do công đức này mà sanh
làm Đại Phạm thiên, hoặc sanh về cõi Phạm phụ thiên, hay sanh về cõi Phạm thân
thiên.”
26. Đáo
bỉ ngạn
(No. 1172). Một thời Đức Phật ở
trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí như có bốn con rắn hổ hung ác, độc nghiệt, đựng trong một cái tráp. Bấy giờ
có một người thông minh, không ngu si, có trí tuệ, tìm lạc, nhàm khổ, cầu sống
chán chết. Khi ấy, có một người kia nói với người này rằng: ‘Nay, anh giữ cái
tráp đựng rắn độc này. Hãy lau chùi, tắm rửa cho chúng; gần gũi, cho chúng ăn.
Thỉnh thoảng, cho chúng ra, vào. Nếu bốn con rắn này thoát ra, thì rất có hại,
hoặc có thể cắn chết, hoặc gần chết. Bạn hãy coi chừng.’
“Bấy giờ, người này sợ hãi bỏ chạy. Bỗng có năm kẻ oán thù cầm
đao rượt theo muốn bắt giết: ‘Này bạn, hãy đề phòng.’ Trong lúc anh đang sợ bốn
con rắn độc và năm kẻ oán thù hoa đao nên ruổi chạy, thì người kia lại nói: ‘Này
bạn, bên trong còn có sáu tên giặc đang đuổi theo rình rập anh. Nếu bắt được,
chúng nó sẽ giết. Anh nên đề phòng.’
“Bấy giờ, người này vì sợ bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù cầm
dao, với sáu tên giặc ở bên trong, nên kinh hãi bỏ chạy, lại trở vào trong xóm
vắng. Thấy một căn nhà trống mục nát nguy hoại kia, với những đồ vật xấu ác, dòn
tan, dễ vỡ, không có gì chắc thật. Người kia lại nói: ‘Này bạn, thôn xóm vắng vẻ
này sẽ có bọn giặc đến. Chúng sẽ hại anh.’
“Khi ấy, người này vì sợ bốn con rắn độc, năm tên giặc hoa đao,
sáu tên giặc dữ bên trong và một đám giặc trong xóm vắng, nên anh tiếp tục chạy.
Chợt gặp một con sông lớn chắn ngang đường, dòng nước sâu đang chảy siết, chỉ
thấy bờ bên này có nhiều sự sợ hãi, còn thấy bờ bên kia an ổn khoái lạc, mát mẻ,
không có sợ hãi. Nhưng không có cầu, thuyền để đưa qua được đến bờ kia. Anh ta
tự nghĩ: ‘Ta hãy lấy cây cỏ kết thành một chiếc bè, dùng tay chân làm phương
tiện vượt qua bên kia sông.’ Nghĩ như vậy rồi, liền thâu thập cây cỏ, tại cạnh
bờ sông kết lại thành chiếc bè, dùng tay chân làm phương tiện cắt dòng sang
ngang. Như vậy, người này thoát khỏi bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù hoa đao,
sáu tên giặc ác bên trong và lại thoát được bọn giặc nơi xóm vắng; vượt qua khỏi
dòng sâu, bỏ lại mọi sự sợ hãi ở bờ bên này, đến được bờ bên kia, an ổn, khoái
lạc.
“Này các Tỳ-kheo, Ta nói thí dụ đó là để giải thích nghĩa này:
“Cái tráp là dụ cho sắc thân gồm bốn đại thô và sở tạo của bốn đại phù này, thể
tinh huyết, được được nuôi lớn bằng các thức ăn tạp uế, tắm rửa, y phục. Đó là
những pháp mong manh, biến hoại, vô thường.
“Bốn rắn độc là dụ cho bốn đại: đất, nước, gió, lửa. Nếu như địa
đại cạnh tranh, có thể làm cho thân này chết, hoặc là gần chết. Đối với nước,
lửa, gió cạnh tranh nhau cũng lại như vậy. Năm kẻ oán thù cầm đao là dụ cho năm
thủ uẩn. Sáu tên giặc ác bên trong là dụ cho sáu ái hỷ. Xóm vắng là dụ cho sáu
nội nhập. Này thiện nam tử, hãy quán sát mắt nhập xứ là vô thường, biến hoại. Sự
chấp thủ mắt cũng là pháp vô thường hư ngụy. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý nhập xứ
cũng lại như vậy.
“Bọn giặc nơi xóm vắng là dụ cho sáu nhập xứ bên ngoài. Mắt bị
sắc vừa ý, không vừa ý làm hại; tai đối tiếng, mũi đối mùi, lưỡi đối vị, thân
đối xúc, … ý đối pháp dù vừa ý hay không vừa ý cũng đều bị hại.
“Dòng nước xiết dụ cho bốn lưu: dục lưu, hữu lưu, kiến lưu và vô
minh lưu.
“Con sông dụ cho ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
“Bờ bên này nhiều sợ hãi dụ cho hữu thân. Bờ bên kia mát mẻ, an
lạc dụ cho Vô dư Niết-bàn. Chiếc bè dụ cho Bát chánh đạo. Dùng tay chân làm
phương tiện cắt dòng sang sông dụ cho tinh tấn dõng mãnh đến bờ kia. Trụ xứ của
Bà-la-môn dụ cho Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.
“Như vậy, các Tỳ-kheo, Đại Sư từ bi, an ủi đệ tử. Những gì cần
làm Ta đã làm xong. Nay các ông cũng phải nên làm những gì cần làm. Hoặc dưới
bóng cây vắng vẻ, hay nơi phòng xá thanh tịnh, trải cỏ làm tòa, hoặc chỗ đất
trống hay gò mả, xa lìa tất cả, tinh cần thiền tư, cẩn thận chớ buông lung mà
sau này hối hận. Đây là giáo giới của Ta.”
27. Mục đích
giáo dục của đức Phật là chấm dứt khổ đau
(No. 108). “Họ sẽ lại hỏi: ‘Thấy có lợi ích gì
trong việc dứt trừ dục tham, mà Đại sư nói ở nơi sắc phải điều phục dục tham; ở
nơi thọ, tưởng, hành, thức điều phục dục tham?’ Các ông nên trả lời: ‘Nếu ở nơi
sắc mà đoạn trừ dục, đoạn trừ tham, đoạn trừ niệm, đoạn trừ ái, đoạn trừ khát,
thì đối với sắc nếu có biến đổi, hoặc khác đi, vẫn không khởi lên ưu, bi, khổ,
não; và đối với thọ, tưởng, hành, thức lại cũng như vậy. Thưa các ngài, nếu vì
nguyên nhân nhận lãnh các pháp bất thiện mà khiến cho cuộc sống ngay trong hiện
tại vẫn được an vui, không khổ, không chướng ngại, không phiền não, không nóng
bức, thân hoại mạng chung được sanh vào nơi tốt lành, thì Đức Thế Tôn cuối cùng
đã không dạy: Hãy đoạn trừ các pháp bất thiện. Và cũng không dạy người ở trong
Phật pháp tu các phạm hạnh, để đạt được tận cùng của mé khổ. Vì nguyên nhân nhận
lãnh các pháp bất thiện nên sẽ đưa đến một cuộc sống khổ đau ngay trong hiện tại
và chướng ngại, nhiệt não; sau khi thân hoại mạng chung sẽ đọa vào trong đường
ác. Cho nên Đức Thế Tôn dạy, hãy đoạn trừ pháp bất thiện và ở trong Phật pháp
phải tu các phạm hạnh để đạt được rốt cùng mé khổ, bình đẳng giải thoát hết khổ.
Nếu vì nguyên nhân nhận lãnh các pháp thiện, mà ngay trong cuộc sống hiện tại
chịu khổ, chướng ngại, nhiệt não và sẽ đọa vào trong đường ác, thì Thế Tôn đã
không dạy nên thọ trì pháp thiện, ở trong Phật pháp phải tu phạm hạnh để đạt
được rốt cùng mé khổ, bình đẳng giải thoát hết khổ. Vì thọ trì pháp thiện nên
ngay trong cuộc sống hiện tại được an vui, không khổ, không chướng ngại, không
phiền não, không nhiệt bức; sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào nơi tốt
lành. Cho nên Đức Thế Tôn khen ngợi việc dạy người lãnh thọ các pháp thiện, ở
trong Phật pháp tu các phạm hạnh để đạt được rốt cùng của mé khổ, bình đẳng giải
thoát hết khổ.”
28. Con rùa mù với bộng cây
(No. 406). Ví như đất liền đều
biến thành biển lớn, có một con rùa mù, sống vô lượng kiếp; trăm năm mới trồi
đầu lên một lần. Trong biển có một khúc gỗ nổi, chỉ có một lỗ hổng, lênh đênh
trên sóng nước theo gió trôi nổi Đông Tây. Con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu
lên một lần kia, sẽ gặp được cái lỗ hổng này không?”
Tôn giả A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, không thể được. Vì sao?
Vì con rùa mù này, nếu đến biển phía Đông, thì khúc gỗ có thể theo gió, hoặc đến
biển phía Tây, Nam, Bắc. Cũng vậy, bốn phía xung quanh không dễ gì gặp được.”
Phật bảo A-nan: “Con rùa mù và khúc gỗ nổi tuy trái chiều nhau,
nhưng có thể gặp được. Phàm phu ngu si phiêu lưu trong năm đường, tạm thời được
thân người còn khó hơn việc trên. Vì sao? Vì những chúng sanh này không thực
hành nghĩa này, không thực hành pháp, không thực hành điều lành, không thực hành
chân thật, lần lượt sát hại lẫn nhau, kẻ mạnh lấn áp người yếu, tạo ra vô lượng
điều ác. Cho nên, các Tỳ-kheo, đối với bốn Thánh đế nếu chưa hiện quán, thì nên
siêng năng tìm phương tiện, phát khởi ý muốn tăng thượng, tu học hiện quán.”
29.
Lời Phật dạy là chân lý của thế gian
(No. 37). “Ta không tranh luận với thế gian. Thế
gian tranh luận với Ta. Vì sao vậy? Tỳ-kheo, nếu người nào nói đúng pháp, thì
người ấy không tranh luận với thế gian.
“Những gì người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có. Thế nào là người trí thế
gian nói có, Ta cũng nói có? Tỳ-kheo, sắc là vô thường, khổ, là pháp biến dịch;
người trí thế gian nói có, Ta cũng nói có. Cũng vậy, thọ, tưởng, hành, thức là
vô thường, khổ, là pháp biến dịch; người trí thế gian nói có, thì Ta cũng nói
có.
“Những gì người trí thế gian nói không, Ta cũng nói không. Thế
nào là người trí thế gian nói không, Ta cũng nói không? Tỳ-kheo, sắc thường
hằng, không