Sách

Những
vấn đề cốt lõi trong
Kinh
Trường Bộ
Biên soạn: Thích Hạnh Bình
Mục lục
1.
Người Bà la môn nói về Đức Phật
2. 8
điểm đặc thù của đức Phật
3. Thái độ của đức Phật đối với lời khen chê
4. Sự Kiện đức Phật ăn trúng nấm độc viên tịch
5.
Quan điểm trị nước của đức Phật
6. Xác định đức Phật là vị toàn tri toàn kiến
7. Lời di chúc của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết bàn
8. Lời dạy của Phật nhằm mục đích dứt trừ phiền não ở hiện tại và ngày mai
9. Quan điểm của đức Phật đối với vấn đề giới luật
10. Có thể
bỏ những giới nhỏ
11. 62 kiến
của ngoại đạo
12. Phạm Thiên
13. Chủ trương của phái phủ nhận giá trị đạo đức (Pùrana Kassapa)
14. Chủ trương của phái định mệnh (Makkhali Gosàla)
15. Chủ trương của Phái hoài nghi (sanjaya)
16. Chủ trương của phái đoạn diệt (Ajita Kesakambàli)
17. Chủ trương của phái duy vật (Pakudha Kaccàyana)
18. Chủ trương của phái khổ hạnh (Nigantha Nàtaputta)
19. Phật giáo chịu ảnh hưởng những tín ngưỡng dân gian và tập quán của xã hội
20. Chế độ giai cấp
21. Thái độ trọng mình khinh người của giai cấp Bà la môn
22. Cái nhìn của Bà La Môn đối với Phật giáo
23. 5 đức tánh hay tư cách của một vị Bà La Môn
24. Cái nhìn của đức Phật đối với 4 giai cấp
25. Vấn đề 32
tướng tốt
26. Mối quan hệ mật thiết giữa trí tuệ và giới hạnh
27.
Tập tục tế đàn của Bà La Môn
28.
Phương pháp tế đàn của đức Phật
29. 6 phương
30. Quá trình
chứng quả
31.
Tu tập khổ hạnh của ngoại đạo
32. Quan điểm của đức Phật đối với vấn đề tu tập khổ hạnh
33. Người ngoại đạo muốn xuất gia phải sống 4 tháng biệt trú
34. Xác định Tôn giả Kassapa đã chứng quả A la hán
35. 14 vấn đề vô ký
36. Giới định tuệ
37. Quan điểm của đức Phật đối với vấn đề thần thông
38. Sự ra đời của đức Phật không nhằm giải quyết những vấn đề siêu hình không
thật tế
39. Hiện tại
là quan trọng
40. 3 loại đạo sư đáng được chỉ trích
41. Người mù
dẫn người đui
42. 4 Vô Lượng Tâm
43. Chuyện tiền
thân
44. Truyền thuyết 7 vị Phật trong quá khứ
45. 12 nhân duyên
46. Bảy pháp bất
thối
47. Năm điều nguy hiểm cho những ai sống phạm giới
48. Tám nguyên nhân làm cho trái đất rung động
49. A Nan không thỉnh Phật trụ thêm ở đời
50. Sự kiện A Nan lấy nước đục cho Phật uống
51. Lấy Kinh điển là tiêu chuẩn để biết người khác nói đùng pháp hay phi pháp
52. Bốn
thánh tích của Phật
53. Vấn đề trà tì và xá lợi của Phật
54.
Bốn đức tính đặc thù của A Nan
55.
Vấn đề nơi Thế Tôn nhập diệt
56. Liên quan đến cảnh giới cực lạc trong Kinh A Di Đà
57. Lý do mà Ngài Ca Diếp Kết tập Luật Tạng
58. Thế Tôn tuyên bố các loài hữu tình sanh chỗ này chỗ kia
59. Phật giáo ở thời đại vua A Dục đã phát triển đến những địa phương khác
60. Tu tập là sự phận biệt giữa thiện và bất thiện
61. Không có hai vị Phật xuất hiện cùng lúc
62.
Đức Phật là người không có bịnh
63. Tứ Niệm xứ
64. Nương tựa
chính mình
65. Truyền thống 7 báu của vua chuyển luân Thánh vương
66. Thế nào gọi là một Chuyển Luân Thánh Vương chánh pháp
67.
Vấn đề tuối thọ
68. Nghèo đói là nguyên nhân của mọi tội lỗi
69. Quá trình hình thành nhân sanh và vũ trụ
70. Sự kiện phái Kỳ Na giáo phân phái
71. Nội dung kiết tập kinh điển và lý do tại sao kiết tập
72. Thái độ khách quan của đức Phật khi phê bình những tôn giáo khác
73.
Lễ bái 6 phương
74. Những hạng người không nên kết bạn
Nội dung
1. Người Bà la môn nói về Đức Phật
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Sonadanda, trang 205~210;
Cũng trong
kinh này, trang số 223 Bà
la môn Sonadanda nói về
đức Phật như sau; “Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu thay,
Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã
xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn
sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp
đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con
xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama
nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Và mong Tôn giả Gotama, ngày mai cùng chúng Tỷ-kheo nhận lời mời đến dùng cơm do
con mời.”; Cũng giống như Kinh Kutadanta trang 231~239.
2. 8
điểm đặc thù của đức Phật
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Đại Điển Tôn, trang 84~87
"- Này chư
Thiện hữu ở Tam thập tam thiên các vị nghĩ thế nào? Như Lai dấn thân vì hạnh
phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và lời Người. Một vị Ðại sư dấn thân vì hạnh
phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và loài Người như vậy, một vị Ðại sư đầy đủ
đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong
hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Chánh
pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh pháp thiết thực hiện tại,
vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí
tự mình giác hiểu. Một vị Giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Ðạo
sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng
như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Ðây là
thiện", "đây là bất thiện" đã được Thế Tôn khéo giải thích. "Ðây có tội", "đây
không tội", "đây cần phải tuân theo", "đây cần phải né tránh", "đây là hạ liệt",
"đây là cao thượng", "đây là đen trắng đồng đẳng", được Thế Tôn khéo giải thích.
Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải
thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị
Ðại sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ,
cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Con đường
đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một, đã
được Thế Tôn khéo giải thích như nước sông Hằng phối hợp và cùng chảy với nước
sông Yamuna (Diệm-mâu-na). Cũng vậy con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử,
Niết-bàn và con đường phối hợp thành một đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị
khéo giải thích con đường hướng đến Niết-bàn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức
tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong
hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Thế Tôn
cũng đã đào tạo được chúng thiện hữu Hữu học đang đi trên nẻo đạo và các vị Lậu
tận đã hoàn tất Thánh đạo. Ngài không di tản chúng nhưng sống cùng chung một
niềm hòa hợp lạc trú. Một vị sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú, một Ðạo
sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như
trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Lợi dưỡng
cúng dường cho Thế Tôn đã được an bài chắc chắn, danh tiếng cũng đã được an bài
chắc chắn, và con nghĩ rằng các vị Sát-đế-lỵ (Khattiyà) sống với gương mặt rất
quý mến Ngài. Nhưng Thế Tôn sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn.
Một vị sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn như vậy, một vị Ðạo
sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như
trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Thế Tôn
nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Một vị nói gì thời làm vậy, làm gì
thời nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, làm gì thời nói vậy, thành
tựu các pháp và túy pháp như vậy. Một vị đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật
khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Thế Tôn
đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và
tối sơ phạm hạnh. Một vị đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được
thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh, một bậc Ðạo sư đầy đủ đức tánh như
vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế
Tôn.
3. Thái độ của đức Phật
đối với lời khen chê
Trường Bộ 1, Kinh Phạm
Võng, trang 13~15
Này các
Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi
chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các
Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các
ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại
cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu
các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của
những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?
Bạch Thế
Tôn, không thể được!
Này các
Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi
phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - "Như thế này,
điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này
không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi".
Này các
Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các
ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu
có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ,
vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có
người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận
những gì đúng sự thật là đúng sự thật: "Như thế này, điểm này đúng sự thật, như
thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa
chúng tôi".
Này các
Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới
luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề
không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?
Sa-môn
Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có
lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Này các Tỷ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
Này các
Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà
kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.
Này các
Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ
diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận
hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính
những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Này các
Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu,
không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể
nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và
chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến?
(62 loại Tà kiến.
4. Sự Kiện đức Phật ăn
trúng nấm độc viên tịch
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 624
Rồi Thế
Tôn nói với thợ sắt Cunda: Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào
một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm
thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa
những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
Xin vâng,
bạch Thế Tôn!
Thợ sắt
Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ
Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt
Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ
rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Sau khi
dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn
gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
Rồi Thế
Tôn nói với tôn giả Ananda: Này Ananda, chúng
ta hãy đi đến Kusinàra. )
5.
Quan điểm trị nước của đức Phật
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kutadanta, trang ?
Này
Bà-la-môn, khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn chủ tế tâu với vua Mahàvijita như sau:
"Ðại vương, vương quốc (này) chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn cướp làng,
đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy bọn cướp đường. Trong quốc
độ chịu tai ương, chịu ách nạn như vậy, nếu Tôn vương đánh thuế má mới, như vậy
Tôn vương có ý nghĩ: "Ta hãy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử hình, hoặc
bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng tẩn xuất".
Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những bọn còn
lại không bị hình phạt sau lại tiếp tục hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu
theo phương pháp sau đây bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn:
những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương
hãy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà
vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những
vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hãy cấp cho những vị
ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình
sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ
sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui
vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng". - "Vâng,
Tôn giả"…
6. Xác định đức Phật là
vị toàn tri toàn kiến
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Phạm Võng trang 12
Này các
Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng
Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu
hướng sai khác của chúng sanh.
7. Lời di
chúc của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết bàn
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn, trang 583~584
Này
Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh
pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này
Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn
giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: "Như
Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như
Lai" thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda,
Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo
chịu sự giáo huấn của Ta" thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo
cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến
tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ
còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự
sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai
không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô
tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
Vậy nên,
này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính
mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp
làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo
hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không
nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Kinh Đại Bát Niết Bàn,
trang 613~614
Này các
Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi
phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường
tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng
thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài
Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các
Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được
trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và
loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực,
Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta
chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và
truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời
và loài Người.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
Này các
Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn
lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm
nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Kinh Đại Bát Niết Bàn,
trang 662~663
Lúc bấy
giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda: Này
Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: "Lời nói của bậc Ðạo sư không
còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)". Này Ananda, chớ có những tư tưởng
như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt
độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi. .
Lời khuyên
của đức Phật về vấn đề lý giải lời dạy của ngài
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Thanh Tịnh, trang 460….
Do vậy,
này Cunda, những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các
Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh
các nghĩa với nhau, các câu với nhau để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài,
được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài
Người….
Này Cunda,
các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có
tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi
nghĩ rằng "Vị Ðại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc", các Ngươi
không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên
nói với vị ấy: "Này Hiền giả, với nghĩa này,
cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách
hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?"…
Lại nữa
này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi
nghĩ rằng: "Vị Ðại đức ấy nắm nghĩa sai lạc nhưng hành văn đúng đắn", các Ngươi
không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không thán thán, không bác bỏ, các ngươi
nên nói với vị ấy: "Này Hiền giả, giữa những cách hành văn này, nghĩa này hay
nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?" Nếu vị ấy trả lời: "Này Hiền giả, giữa
những cách hành văn này, nghĩa này thích hợp hơn nghĩa kia", các Ngươi không nên
bác bỏ, không phỉ báng, các Ngươi phải giải thích một cách cẩn thận ý nghĩa đúng
đắn cho vị ấy….
8. Lời dạy của Phật nhằm mục đích dứt trừ phiền não ở hiện tại và ngày mai
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Thanh Tịnh, trang 460
Này Cunda
Ta không thuyết giảng chỉ để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện tại. Này
Cunda, Ta không thuyết pháp, chỉ để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai mà
thôi. Này Cunda, Ta thuyết pháp vừa để ngăn chận các lậu hoặc ngay trong hiện
tại mà cũng để diệt trừ các lậu hoặc trong tương lai nữa.
9. Quan điểm của
đức Phật đối với vấn đề giới luật
Trương Bộ Kinh 1, Kinh
Phạm Võng, trang 15
Này các
Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới
luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề
không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?
Sa-môn Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm
quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu
tình. - Này các Tỷ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu
10. Có thể
bỏ những giới nhỏ
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 663
Này Ananda, nếu chúng Tăng
muốn, sau khi Ta diệt độ có thể hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.
11. 62 kiến
của ngoại đạo
Trường Bộ Kinh 1, Kinh
Phạm Võng. (xem toàn
kinh)
12. Phạm Thiên
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Phạm Võng, trang 38
Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, vị
hữu tình đầu tiên sanh qua nghĩ rằng: "Ta là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, Toàn
năng, Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ,
Ðại tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ
sanh. Những loài hữu tình ấy do chính ta sanh ra. Tại sao vậy? Vì chính do ta
khởi niệm: Mong sao các loài hữu tình khác cũng đến tại chỗ này - Chính do sở
nguyện của ta mà những loài hữu tình ấy đến tại chỗ này". Các loài hữu tình đến
sau cũng nghĩ như thế này: "Vị ấy là Phạm thiên, Ðại Phạm thiên, đấng Toàn năng,
Tối thắng, Biến nhãn, Thượng tôn, Thượng đế, Sáng tạo chủ, Hóa sanh chủ, Ðại
tôn, Chúa tể mọi định mạng, đấng Tự tại, Tổ phụ các chúng sanh đã và sẽ sanh.
Chúng ta do vị Phạm thiên này hóa sanh. Vì sao vậy? Vì ta đã thấy vị này sanh
trước ở đây rồi. Còn chúng ta thì sanh sau"
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Tevijja (Tam minh), trang 406~409
Thế nào
Vàsettha? Có Bà-la-môn nào trong những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà tận mặt
đã thấy Phạm thiên?
Tôn giả
Gotama, không có vị nào.
Thế nào
Vàsettha? Có tôn sư nào của các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy
Phạm thiên?
Tôn giả
Gotama, không có vị nào.
Thế nào
Vàsettha? Có Bà-la-môn nào cho đến bảy đời tôn sư và đại tôn sư của những vị
Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt nhìn thấy Phạm thiên?
Tôn giả
Gotama, không có vị nào.
Thế nào,
này Vàsettha. Những vị tu sĩ thời cổ trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà,
những vị sáng tác các thần chú, những vị trì tụng thần chú mà xưa kia những thần
chú được hát lên, được trì tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những vị Bà-la-môn
tinh thông ba tập Vedà cũng hát lên, trì tụng và ngâm giảng như các vị Atthaka
(A-sá-ca) Vàmaka (Bà-ma), Vàmadeva (Bà-ma-đề-bà), Angirasa (Ương-kỳ-sá),
Bhàradvàja (Bạt-la-đà-phan-xà), Vàsettha (Bà-tất-sá), Kassapa (Ca-diếp), Bhagu
(Bà-cữu), những vị này có nói: "Chúng tôi biết, chúng tôi thấy chỗ ở Phạm thiên,
chỗ đến Phạm thiên, chỗ đi Phạm thiên?"
Tôn giả Gotama, không có vị
nào.
Này
Vàsettha, như vậy Ngươi nói không có một Bà-la-môn nào trong những vị tinh thông
ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên - không có một tôn sư nào của các
Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mặt thấy Phạm thiên, không có một đại
tôn sư nào của ác Bà-la-môn tinh thông ba tập và đã tận mặt thấy Phạm thiên -
không có một Bà-la-môn nào cho đến bảy đời đại tôn sư, tôn sư của những
Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã tận mắt thấy Phạm thiên, trong những tu sĩ
thời cổ, trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, những vị sáng tác các thần
chú, những vi trì tụng thần chú mà xưa kia những thần chú được hát lên, được trì
tụng, được ngâm vịnh và ngày nay những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà cũng hát
lên, trì tụng và giảng dạy như các vị Atthaka, Vàmaka, Vàmadeva, Vessàmita,
Yamataggi, Angirasa, Bhàradvàja, Vàsettha, Kassapa, Bhagu, không có một vị nào
đã nói: "Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến,
Phạm thiên sẽ đi đâu". Như vậy các bà Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà đã nói:
"Chúng tôi không biết, chúng tôi không thấy con đường đưa đến cộng trú với Phạm
thiên, nhưng chúng tôi thuyết dạy con đường ấy: "Ðây là trực đạo, đây là chánh
đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo".
Này
Vàsettha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thời có phải lời nói của những
Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà là không chánh xác, hợp lý?
Tôn giả
Gotama, sự kiện là như vậy thời lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập
Vedà là không chánh xác, hợp lý.
Này
Vàsettha, những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con
đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên mà thuyết dạy: "Ðây là trực đạo, đây là
chánh đạo hướng đến, dẫn đến cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành
theo", thật không thể có sự kiện ấy. Này Vàsettha, ví như một chuỗi người mù ôm
lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng
cũng không thấy. Như vậy, này Vàsettha lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba
tập Vedà, người đầu không thấy, giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không
thấy, giống như lời nói mù quáng. Lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập
Vedà như vậy là lời nói đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng,
là lời nói trống rỗng.
13.
Chủ trương của phái phủ nhận giá trị đạo đức (Pùrana Kassapa)
Kinh Trường Bộ 1, Kinh Sa
Môn Quả, trang 103~104
Bạch Thế
Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con: "Này Ðại vương, tự làm hay
khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người
đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến
người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy
của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận
đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác
gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành
một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra
tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết,
khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội
ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến
người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo". Bạch
Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn, Pùrana
Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp. Bạch Thế Tôn, cũng như hỏi về trái xoài
lại trả lời về trái mít, hoặc hỏi về trái mít lại trả lời về trái xoài. Cũng
vậy, Bạch Thế Tôn, khi được hỏi về kết quả hiện tại thiết thực của hạnh Sa-môn,
Purana Kassapa đã trả lời với thuyết vô nghiệp, bạch Thế Tôn, con nghĩ: "Làm sao
một người như con lại có thể làm một vị Sa-môn hay Bà-la-môn ở trong nước con
không được vui lòng?" Vì vậy bạch Thế Tôn, con không tán thán, cũng không cật
nạn lời nói của Pùrana Kassapa. Không tán thán, không cật nạn, dầu không mãn
nguyện cũng không thốt ra lời bất mãn, không công nhận cũng như không bác bỏ,
con từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Kinh Trường Bộ 2, Kinh Tệ
Túc, trang 217….
14. Chủ trương của
phái định mệnh (Makkhali Gosàla)
Kinh Trường Bộ 1, Kinh Sa
Môn Quả, trang 105~106
Bạch Thế
Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đã nói với con: "Này Ðại vương, không có
nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài
hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh
tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác,
không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có
nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật,
tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn.
Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi
cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng.
Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn
và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm
căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và
bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám
nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn
ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba
mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ
đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas
(rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm),
bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy
kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau. Không có
lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm
hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ
diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường
khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không
có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến
mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển
luân hồi sẽ trừ tận khổ đau".
15. Chủ trương của Phái
hoài nghi (sanjaya)
Kinh Trường Bộ 1, Kinh Sa
Môn Quả, trang 113~114
Bạch Thế
Tôn, khi được nói vậy, Sanjaya Belatthiputta đã trả lời với con: "Nếu anh hỏi:
"Có một thế giới khác hay không?" Nếu tôi nghĩ "Có một thế giới khác", tôi có
thể trả lời với anh: "Có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi
không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải
như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi: "Không có
một thế giới khác phải không?" Nếu tôi nghĩ: "Không có một thế giới khác", tôi
có thể trả lời với anh: "Không có một thế giới khác". Nhưng tôi không nói là như
vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là
không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế. Nếu anh hỏi tôi
"Không có một thế giới khác phải không?" (... như trên... ) "Cũng có và cũng
không có một thế giới khác?" "Cũng không có và cũng không không có một thế giới
khác?", "Có loại hữu tình hóa sanh?", "Không có loại hữu tình hóa sanh?" "Cũng
có và cũng không có loại hữu tình hóa sanh?" "Cũng không có và cũng không không
có loại hữu tình hóa sanh?", "Có kết quả dị thục của các nghiệp thiện và ác?",
"Không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Cũng có và cũng không
có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Cũng không có và cũng không
không có kết quả dị thục của những nghiệp thiện và ác?", "Như Lai có tồn tại sau
khi chết?", "Như Lai không có tồn tại sau khi chết?", "Như Lai có và không có
tồn tại sau khi chết?", "Như Lai không có và cũng không không có tồn tại sau khi
chết?". Anh hỏi tôi như vậy. Nếu tôi nghĩ : "Như Lai không có và cũng không
không có tồn tại sau khi chết". Tôi có thể trả lời : "Như Lai không có và cũng
không không có tồn tại sau khi chết". Nhưng tôi không nói là như vậy. Tôi không
nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi không nói là không phải như
thế. Tôi không nói là không không phải như thế."
Kinh Phạm võng, trang 50
Này các Tỷ-kheo, ở đây có
Sa-môn hay Bà-la-môn không như thật biết "Ðây là thiện" không như thật biết "Ðây
là bất thiện". Vị ấy nghĩ: Tôi không như thật biết: "Ðây là thiện", không như
thật biết: "Ðây là bất thiện" và nếu tôi trả lời: "Ðây là thiện" hoặc tôi trả
lời: "Ðây là bất thiện", thời dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi . Nếu
dục, tham, sân hoặc hận, khởi lên nơi tôi, như vậy tôi có thể bị sai lầm. Nếu
tôi sai lầm thì tôi bị phiền muộn. Nếu tôi bị phiền muộn sẽ thành một chướng
ngại cho tôi - Như vậy, vì sợ sai lầm, vì chán ghét sai lầm, nên vị ấy không trả
lời: "Ðây là thiện", cũng không trả lời: "Ðây là bất thiện". Khi hỏi đến vấn đề
này hay vấn đề khác, vị ấy dùng lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: "Tôi không
nói là như vậy. Tôi không nói là như kia. Tôi không nói là khác như thế. Tôi
không nói là không phải như thế. Tôi không nói là không không phải như thế".
16. Chủ trương
của phái đoạn diệt (Ajita Kesakambàli)
Kinh Trường Bộ 1,
Kinh Sa Môn Quả, trang 107~108
Bạch Thế
Tôn, khi được nói vậy, Ajita Kesakambàli đã nói với con: "Này Ðại vương, không
có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp
thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không
có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, những vị Bà-la-môn chánh
hướng, chánh hạnh, đã tự mình chứng tri giác ngộ đời này đời khác và truyền dạy
lại. Con người này do bốn đại hợp thành, khi mệnh chung, địa đại trở về trả lại
cho địa giới, thủy đại trở về trả lại cho thủy giới, hỏa đại trở về trả lại cho
hỏa giới, phong đại trở về trả lại cho phong giới, các căn nhập vào hư không.
Bốn người gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết
mang đi đến chỗ hỏa táng, thốt ra những lời tán tụng, các xương trắng như màu bồ
câu và những vật cúng dường trở thành tro bụi, chỉ có người ngu mới tán dương sự
bố thí, lời nói của chúng trống không, giả dối, khi chúng chấp thuyết có sự
sống. Kẻ ngu cũng như người hiền, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt,
tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết. ")
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Phạm Võng, trang 67
Này các
Tỷ-kheo, có Sa-môn hoặc Bà-la-môn chủ trương lý thuyết và ý kiến: "Vì bản ngã
này có sắc, do bốn đại hợp thành, do cha mẹ sanh ra, khi thân hoại bị hủy nát
tiêu diệt, sau khi chết không còn nữa, nên bản ngã này như thế hoàn toàn đoạn
diệt". Như vậy một số người chủ trương sự đoạn diệt, sự tiêu thất và sự hủy hoại
của loài hữu tình.
17. Chủ trương của
phái duy vật (Pakudha Kaccàyana)
Kinh Trường Bộ 1, Kinh Sa
Môn Quả, trang 109~110
Bạch Thế
Tôn, khi được nói vậy, Pakudha Kaccàyana nói với con: "Này Ðại vương, có bảy
thân không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không
sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động không
chuyển biến, không xâm lăng nhau. Chúng không ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau
hoặc cả khổ và lạc. Bảy thân ấy là gì? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong
thân, khổ, lạc và thứ bảy là mạng. Bảy thân này khômg bị làm ra, không làm ra,
không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng
thẳng như trụ đá. Chúng bất động không chuyển biến, không xâm lăng, chúng không
ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây không có người
giết hại, hoặc có người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc
người khiến cho biết. Khi một ai dùng lưởi kiếm sắc bén chém đầu, thời không có
ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi".
18. Chủ trương
của phái khổ hạnh (Nigantha Nàtaputta)
Kinh Trường Bộ 1, Kinh Sa
Môn Quả, trang 111~112
Bạch Thế
Tôn, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: "Này Ðại vương, một người
Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào
là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Ðại vương, một
Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp,
sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp.
Này Ðại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại
vương, vì một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là
Gotatto (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và
Thitatto (một vị đã an trú được tự tâm)".
Kinh Trường Bộ 2, Kinh Ưu
Đàm Bà
La Sư tử Hống, trang 327….
19. Phật giáo chịu ảnh hưởng những tín ngưỡng dân gian và tập quán của xã hội
Kinh Trường Bộ 1, Kinh Sa
Môn Quả, trang 124~133
…129 Trong
khi một số Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn
còn sống cho đưa các tin tức, hoặc tự đứng làm môi giới như cho các vua, các đại
thần của vua, cho các vị Sát-đế-lỵ, cho các vị Bà-la-môn, cho các gia chủ cho
các thanh niên và nói rằng: "Hãy đi đến chỗ ấy, hãy đi lại chỗ kia, mang cái này
lại, đem cái này đến chỗ kia". Còn vị ấy thì từ bỏ đưa các tin tức và đứng làm
môi giới. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới luật….132 Trong khi một số
Sa-môn, Bà-la-môn, dầu đã dùng các món ăn do tín thí cúng dường, vẫn còn tự nuôi
sống bằng những tà mạng, như sắp đặt ngày lành để rước dâu hay rễ về nhà, sắp
đặt ngày lành để đưa dâu hay rễ, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt
để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu
tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị
rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến
quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú
khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết
họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, phun ra lửa, cầu Siri thần tài. Còn vị ấy
thì tránh xa các tà mạng kể trên. Như vậy là giới hạnh của vị ấy trong giới
luật.
20. Chế độ giai cấp
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Ambattha, trang 175~180
Nói về sự
bất bình đẳng trong giai cấp; Kinh Sonadanda, trang 203~204
Lại Tôn
giả Sonadanda thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến
bảy đời tổ phụ không bị một vết nhơ nào, không bị một dèm pha nào về vấn đề
huyết thống thọ sanh. Vì Tôn giả Sonadanda thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ hệ,
huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào, không
bị một chỉ trích nào về vấn đề huyết thống thọ sanh, do điểm này, thật không
xứng đáng cho Tôn giả Sonadanda đến yết kiến Sa-môn Gotama, thật xứng đáng cho
Sa-môn Gotama đến yết kiến Bà-la-môn Sonadanda. Lại Tôn giả Sonadanda là nhà
giàu có, đại phú, sung túc... Lại Tôn giả Sonadanda là nhà phúng tụng, nhà trì
chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và
lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm, biện tài về
Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân. Tôn giả Sonadanda đẹp trai,
khả ái, làm đẹp lòng người, với màu da thù thắng khôi ngô tuấn tú, cử chỉ trang
nhã, dáng điệu cao thượng. Tôn giả Sonadanda thiện ngôn, dùng lời thiện ngôn nói
lời tao nhã, ý nghĩa minh bạch, giọng nói không bập bẹ phều phào, giải thích
nghĩa lý minh xác. Tôn giả Sonadanda là bậc tôn sư của hàng tôn sư nhiều người,
dạy ba trăm thanh niên Bà-la-môn tụng đọc chú thuật, thanh niên Bà-la-môn từ
nhiều phương, từ nhiều nước, tha thiết với chú thuật đến với Tôn giả Sanadanda
để học thuộc lòng các chú thuật. Tôn giả Sonadanda niên cao, lạp lớn, bậc lão
thành, đến tuổi trưởng thượng; còn Sa-môn Gotama thì tuổi trẻ, xuất gia chưa
được nhiều năm. Tôn giả Sonadanda được vua Seniya Bimbisara (Tần-bà-ta-la) xứ
Magadha (Ma-kiệt-đà) kính trọng, tôn sùng, chiêm ngưỡng, kính lễ, trọng vọng.
Tôn giả Sonadanda được Bà-la-môn Pokkharasàdi kính trọng tôn sùng, chiêm ngưỡng,
kính lễ, trọng vọng. Tôn giả Sonadanda sống ở Campà, một địa phương dân chúng
đông đúc, cỏ cây, ao nước phì nhiêu, lúa gạo sung túc, một vương lãnh địa, một
tịnh thí địa, một ân tứ của vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha. Do điểm này, thật
không xứng đáng cho Tôn giả Sonadanda đến yết kiến Sa-môn Gotama, thật xứng đáng
cho Sa-môn Gotama yết kiến Tôn giả Sonadanda.)
21. Thái độ
trọng mình khinh người của giai cấp Bà la môn
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kutadanta, trang 231
Tôn giả
Kùtadanta chớ có đến yết kiến Sa-môn Gotama. Thật không xứng đáng cho Tôn giả
Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Nếu Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn
Gotama, thì danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn, danh tiếng của Sa-môn
Gotama được tăng trưởng. Vì danh tiếng của Tôn giả Kùtadanta bị hao tổn và danh
tiếng của Sa-môn Gotama được tăng trưởng, do điểm này thật không xứng đáng cho
Tôn giả Kùtadanta đến yết kiến Sa-môn Gotama. Trái lại thật xứng đáng cho Sa-môn
Gotama đến yết kiến Tôn giả Kùtadanta. …
22. Cái nhìn của Bà La
Môn đối với Phật giáo
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Khởi Thế Nhân Bổn, trang 389
Bạch Thế
Tôn, các vị Bà-la-môn đã nói như sau: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, giai
cấp khác là hạ liệt. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da
đen. Chỉ có Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như
vậy. Chỉ có Bà-la-môn mới là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm
thiên, do Phạm thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm
thiên. Các Ngươi đã từ bỏ giai cấp tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiện -
giai cấp các Sa môn trọc đầu, đê tiện, đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân. Làm
vậy thật là không tốt, làm vậy thật là không hợp, khi các Ngươi từ bỏ giai cấp
tối thượng, cúi mình vào giai cấp hạ tiệt, giai cấp Bà-la-môn trọc đầu, đê tiện,
đen đủi, giòng giống thuộc bàn chân". Bạch Thế Tôn, như vậy các vị Bà-la-môn chỉ
trích chúng con, phỉ báng chúng con, với những lời phỉ báng thật chí tình, phỉ
báng thật toàn diện, chớ không phải không toàn diện.
23. 5 đức tánh hay tư
cách của một vị Bà La Môn
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Sonadanda, trang 214~215
Này
Bà-la-môn, những vị Bà-la-môn phải đầy đủ bao nhiêu đức tính mới được gọi là
Bà-la-môn, và để có thể khi nói "tôi là Bà-la-môn ", lời nói ấy là chơn chánh,
không phải là lời nói dối?
Có năm đức
tánh, những vị Bà-la-môn phải đầy đủ mới được gọi là Bà-la-môn và để có thể khi
nói: "Tôi là Bà-la-môn ", lời nói ấy chơn chánh, không phải là lời nói dối. Thế
nào là năm? Ở đây, này Tôn giả, người Bà-la-môn thiện sanh cả từ mẫu hệ và phụ
hệ, huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời tổ phụ, không bị một vết nhơ nào,
không bị một dèm pha nào về vấn đề huyết thống thọ sanh. Vị ấy là nhà phúng
tụng, nhà trì chú, thông hiểu ba tập Vedà với danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên,
chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm, thông hiểu ngữ pháp và văn phạm,
biệt tài về Thuận thế (tự nhiên học) và tướng của vị đại nhân. Vị ấy đẹp trai,
khả ái, làm đẹp lòng mọi người, với màu da thù thắng, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ
trang nhã, dáng điệu cao thượng. Vị ấy có đức hạnh, đức độ cao dày, đầy đủ giới
hạnh cao dày. Và vị ấy là người học rộng, sáng suốt, là người đệ nhất hay đệ nhị
trong những người cầm muỗng (để đổ bơ làm lễ tế thần). Này Tôn giả Gotama, đó là
năm đức tánh, những vị Bà-la-môn phải đầy đủ mới được gọi là Bà-la-môn và để có
thể, khi nói: "Tôi là Bà-la-môn ", lời nói ấy là chơn chánh, không phải là lời
nói dối.
24. Cái nhìn của đức Phật
đối với 4 giai cấp
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Khởi Thế Nhân Bổn, trang 390~393
Này
Vàsettha, có bốn giai cấp: Sát đế lỵ, Bà-la-môn, Phệ xá và Sudda (Thủ-đà-la).
Này Vàsettha, có người Sát đế lỵ sát sanh, lấy của không cho, có tà hạnh, nói
láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tâm tham, có tâm sân, có
tà kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện;
những pháp ấy là có tội và được gọi là có tội; những pháp ấy không nên hành trì
và được gọi là các pháp không nên hành trì; những pháp ấy không xứng Thánh pháp
và được gọi là không xứng Thánh pháp; những pháp ấy là hắc pháp và hắc báo;
những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy
trong một số người Sát đế lỵ. Này Vàsettha có người Bà-la-môn... Này Vàsettha có
người Phệ xá... Này Vàsettha, có người Thủ đà la sát sanh... có tà kiến. Này
Vàsettha, những pháp ấy là bất thiện và được gọi là bất thiện... là hắc pháp và
hắc báo; những pháp ấy bị người có trí quở trách. Ở đây, những pháp ấy được tìm
thấy trong một số người Thủ đà la.
Này
Vàsettha, có người Sát đế lỵ không sát sanh, không lấy của không cho, không có
tà hạnh, không nói láo, không nói hai lưỡi, không nói ác khẩu, không nói lời phù
phiếm, không có tâm tham, không có tâm sân, có chánh kiến. Này Vàsettha, những
pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những pháp ấy không có tội và được gọi là
không có tội; những pháp ấy nên hành trì và được gọi là các pháp nên hành trì;
những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là xứng Thánh pháp; những pháp ấy là
bạch pháp và có bạch quả; những pháp ấy được người có trí tán thán. Ở đây, những
pháp ấy được tìm thấy trong một số người Sát đế lỵ.
Này
Vàsettha, có người Bà-la-môn... Này Vàsettha, có người Phệ xá... Này Vàsettha,
có người Thủ đà la không sát sanh... không có tham tâm, không có sân tâm, có
chánh kiến. Này Vàsettha, những pháp ấy là thiện và được gọi là thiện; những
pháp ấy không có tội và được gọi là không có tội; những pháp ấy nên hành trì và
được gọi là các pháp nên hành trì; những pháp ấy xứng Thánh pháp và được gọi là
xứng Thánh pháp; những pháp ấy là bạch pháp và có bạch quả; những pháp được
người có trí tán thán. Ở đây, những pháp ấy được tìm thấy trong một số người Thủ
đà la.
Này
Vàsettha, vì rằng cả hai pháp hắc và bạch được chỉ trích và được tán thán bởi
những người có trí, đều có mặt lẫn lộn trong bốn gai cấp này, nên ở đây, những
Bà-la-môn nào nói rằng: "Bà-la-môn là giai cấp tối thượng, các giai cấp khác là
hạ liệt; chỉ có giai cấp Bà-la-môn là da trắng, giai cấp khác là da đen; chỉ có
Bà-la-môn là thuần túy, các giai cấp phi Bà-la-môn không phải như vậy; chỉ có
Bà-la-môn là con chính tông của Phạm thiên, sanh từ miệng Phạm thiên, do Phạm
thiên sanh, do Phạm thiên tạo ra, là con cháu thừa tự của Phạm thiên." Các vị có
trí không thể chấp nhận như vậy. Tại sao vậy? Này Vàsettha, vì rằng nếu có ai
trông bốn giai cấp là một vị Tỷ kheo, một vị A la hán, các lậu hoặc đã được diệt
tận, phạm hạnh đã thành, đã làm những việc phải làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã
đạt mục đích tối thượng, hữu kiết sử đã diệt, nhờ chánh trí đã được giải thoát,
vị ấy sẽ được xem là tối thượng so sánh với bốn giai cấp, vì xứng với Pháp,
không phải không xứng với Pháp. Này Vàsettha, Phàp là tối thượng giữa các loài
hữu tình, trong đời này và cả đời sau.
25. Vấn đề 32
tướng tốt
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Ambattha, trang 162
Ambattha
thân yêu, theo truyền thống của chúng ta về ba mươi hai tướng của vị đại nhân,
những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn trong hai con đường, không có đường nào
khác. Nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc
độ, đầy đủ bảy châu báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, ma ni
báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một
ngàn con trai, là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân.
Vị này sống, thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với chánh
pháp, không dùng gậy, không dùng dao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống
không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm
ở đời. Này Ambattha thân yêu, ta đã cho con chú thuật. Con đã nhận những chú
thuật ấy.
Kinh Tướng, trang 479~432
Này các
Tỷ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ
chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia sẽ
làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, bình định bốn phương,
đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở
hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu
và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh
hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục
quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng,
không dùng đao. Nếu vị này, từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này
sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
Này các
Tỷ-kheo, ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này là gì mà những ai đầy đủ những
tướng Ðại Trượng phu này sẽ chọn đi hai con đường, không còn con đường nào khác?
Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương... Nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ
gia đình sống không gia đình, vị ấy sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén
lui màn vô minh che đời?
Này các
Tỷ-kheo, vị này có lòng bàn chân bằng phẳng. Tướng này được xem là tướng tốt của
bậc Ðại nhân. Này các Tỷ-kheo, dưới hai bàn
chân của vị này có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xem với trục xe vành xe,
với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ... Này các
Tỷ-kheo, vị này có gót chân thon dài... Vị này có ngón tay, ngón chân dài... Vị
này có tay chân mềm mại... Vị này tay chân có màn da lưới... Vị này có mắt cá
tròn như con sò... Vị này có ống chân như con dê rừng.... Vị này đứng thẳng,
không co lưng xuống có thể sờ đầu gối với hai bàn tay... Vị này có tướng mã âm
tàng... Vị này có màu da đồng, màu sắc như vàng... Vị này có da trơn mướt, khiến
bụi không thể bám dính vào... Vị này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân
lông có một lông... Vị này có lông mọc xoáy trong thẳng lên, mỗi sợi lông đều
vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về
hướng mặt... Vị này có thân hình cao thẳng... Vị nầy có thân với các góc cạnh
tròn đầy, đều đặn... Vị này có nửa thân trước như thân con sư tử... Vị này không
có lõm khuyết xuống giữa hai vai... Vị này có thân thể cân đối như cây bàng. Bề
cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng
ngang bằng bề cao của thân... Vị này có bán thân trên vuông tròn... Vị này có vị
giác rất nhạy bén... Vị này có quai hàm như con sư tử... Vị này có bốn mươi cái
răng... Vị này có răng đều đặn... Vị này có răng không khuyết hở... Vị này có
răng cửa trơn láng... Vị này có tướng lưỡi rộng dài... Vị này có giọng nói tuyệt
diệu như tiếng chim Ca-lăng-tần-già... Vị này có hai mắt màu xanh đậm... Vị này
có lông mi con bò cái... Vị này có hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn
màng như bông nhẹ... Vị này có nhục kế trên đầu...
26. Mối quan hệ
mật thiết giữa trí tuệ và giới hạnh
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Sonadanda, trang 222
Thật như vậy, này Bà-la-môn .
Này Bà-la-môn, trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ
làm cho thanh tịnh. Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ; chỗ nào có trí tuệ,
chỗ ấy có giới hạnh. Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ; người có trí tuệ
nhất định có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem là tối thắng ở trên đời.
27.
Tập tục tế đàn của Bà La Môn
Kinh Trường Bô 1, Kinh
Kutadanta, trang 227~228
…Lúc bấy giờ, một đàn tế lớn
đang được thiết lập cho Bà-la-môn Kùtadanta, bảy trăm con trâu đực, bảy trăm con
nghé đực lớn, và bảy trăm con nghé cái lớn, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu
đã được dắt đến trụ tế lễ, cho đàn tế.
28.
Phương pháp tế đàn của đức Phật
Kinh Trường bộ 1, Kinh
Kutadanta, trang 246~262
Này Tôn
giả Gotama, có tế đàn nào khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo
hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
Này
Bà-la-môn, có một tế đàn khác ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo
hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này.
Tôn giả
Gotama, tế đàn khác ấy là gì mà ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả
báo, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp và mười sáu tế vật này?
Này
Bà-la-môn, chính là những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi, cúng
dường cho những vị xuất gia có giới đức. Tế đàn ấy, này Bà-la-môn ít phiền tạp
hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế
pháp và mười sáu tế vật này….
Này
Bà-la-môn, chính là sự xây dựng tinh xá cho bốn phương Tăng. Tế đàn ấy ít phiền
tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế
pháp, mười sáu tế vật, và những bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi này.
Này
Bà-la-môn, một ai với tâm thành quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, này
Bà-la-môn, tế đàn ấy ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều quả báo hơn,
nhiều lợi ích hơn tế đàn với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường
xuyên, đàn thí thuận lợi và sự cúng dường tinh xá này.…
Này
Bà-la-môn, một ai với tâm thành thọ trì những giới luật không sát sanh, không
thâu đạo, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Này Bà-la-môn tế đàn ấy
ít phiền tạp hơn, ít nhiễu hại hơn, nhiều kết quả hơn, nhiều lợi ích hơn tế đàn
với ba tế pháp, mười sáu tế vật, sự bố thí thường xuyên, những tế đàn thuận lợi,
sự cúng dường tinh xá và những sự quy y này.
29. 6 phương
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Mahali, trang 270
30. Quá trình
chứng quả
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Mahali, trang 274~275
Này
Mahàli, ở đây Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu, không đọa ác thú,
chắc chắn đạt quả Bồ-đề. Này Mahàli, pháp này cao thượng và thù thắng hơn, vì
muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.
Lại nữa,
này Mahàli, Tỷ-kheo đoạn dứt ba kiết sử làm nhẹ bớt tham, sân, si, thành bậc
Nhứt lai, còn phải sanh lại trong đời này một lần nữa trước khi diệt hẳn khổ
đau. Này Mahàli, pháp này cao thượng hơn và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được
pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm hạnh, dưới sự chỉ dạy của Ta.
Lại nữa,
này Mahàli, vị Tỷ-kheo đã đoạn dứt năm hạ phần kiết sử, thành vị hóa sanh, nhập
Niết-bàn tại đây, không còn phải trở lại thế giới này nữa. Này Mahàli, pháp này
cao thượng và thù thắng hơn. Vì muốn chứng được pháp này, các Tỷ-kheo sống phạm
hạnh dưới sự chỉ dạy của Ta.
31.
Tu tập khổ hạnh của ngoại đạo
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kassapa, trang 289…
Hiền giả Gotama, những pháp khổ
hạnh này được những Sa-môn và Bà-la-môn công nhận là đưa đến Sa-môn quả và
Bà-la-môn quả: Sống lõa thể, - Sống phóng túng, không theo lễ nghi (như đứng mà
đi đại tiểu tiện, đứng ăn, không chịu ngồi theo lễ nghi), - Liếm tay cho sạch
(sau khi ăn, không chịu rửa), - Ði khất thực không chịu bước tới (theo yêu cầu
để thí chủ bỏ đồ ăn vào bát), - Không nhận đồ ăn mang đến (cho mình, trước khi
đi khất thực), - Không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình. - Không nhận mời đi ăn.
- Không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo (sợ nồi chảo bị nạo, bị cạy để cúng dường đồ
ăn), - Không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ
ăn đặt giữa những cây gậy (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn đặt giữa
những cối giã gạo (sợ dành riêng cho mình), - Không nhận đồ ăn từ hai người đang
ăn (sợ đồ ăn chỉ do một người cho), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai
(sợ đứa con trong bụng mẹ bị thiệt thòi), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà
đang cho con bú (sợ sữa đàn bà sẽ bớt đi), - Không nhận đồ ăn từ người đàn bà
đang giao cấu (sợ làm trở ngại sự giao cấu), - Không nhận đồ ăn đi quyên (bởi
tín đồ khi có nạn đói), - Không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng (sợ chó mất phần
ăn), - Không nhận đồ ăn tại chỗ ruồi bu (sợ ruồi mất phần ăn), - Không ăn cá, ăn
thịt, không uống rượu nấu, rượu men. - Vị ấy chỉ nhận ăn tại một nhà, chỉ nhận
ăn một miếng hay vị ấy chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay vị ấy
chỉ nhận ăn tại bảy nhà, vị ấy chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy chỉ nuôi sống với
một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một
ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống theo hạnh
tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần….
32. Quan
điểm của đức Phật đối với vấn đề tu tập khổ hạnh
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kassapa, trang 281~283
Tôn giả
Gotama, tôi nghe như vầy: "Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ
báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ", có phải những vị ấy nói đúng
lời của Tôn giả Gotama? Có phải những vị ấy đã vu oan không xác thật cho Tôn giả
Gotama? Có phải những vị ấy đã tuyên bố như pháp, thuận pháp không? Có những chủ
trương nào chính và phụ gặp phải cật nạn không Thật sự chúng tôi không muốn chỉ
trích sai lạc Tôn giả Gotama.
Này
Kassapa, những ai nói: "Sa-môn Gotama chỉ trích mọi khổ hạnh, tuyệt đối phỉ
báng, mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ", những vị ấy nói không đúng
lời của Ta, đã vu oan không xác thật cho Ta. Này Kassapa, ở đời này, với thiên
nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh, sống khắc khổ...
Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số
người tu khổ hạnh, sống khắc khổ... Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào
thiện chú, thiên giới, thanh tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh
nhưng sống ít khắc khổ hơn... Sau khi thân hoại mạng chung, phải sinh vào ác
sanh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này Kassapa, ở đời này, với thiên nhãn thanh
tịnh, siêu nhân, Ta thấy một số người tu khổ hạnh nhưng sống ít khắc khổ hơn...
Sau khi thân hoại mạng chung, được sinh vào thiện
thú, thiên giới, cõi đời này. Này Kassapa, khi đã biết đúng với sự thật sự lai,
khứ, sanh, diệt của những người tu khổ hạnh như vậy, làm sao Ta lại chỉ trích
mọi khổ hạnh và tuyệt đối phỉ báng mạt sát mọi khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ?
33. Người
ngoại đạo muốn xuất gia phải sống 4 tháng biệt trú
Kinh Trường Bộ 1,
Kinh Kassapa, trang 308
Này
Kassapa, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong
pháp và luật này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú,
chúng Tăng nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành vị Tỷ-kheo.
34. Xác định Tôn
giả Kassapa đã chứng quả A la hán
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kassapa, trang 309
Và lõa thể
Kassapa được xuất gia với Thế Tôn và được thọ đại giới. Thọ đại giới không bao
lâu, Ðại đức Kassapa ở một mình an tịnh, không phóng dật, sống nhiệt tâm, cần
mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà con cháu các lương
gia đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình, hướng đến. Ðó là vô thượng
cứu cánh phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng, ngộ và an
trú: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ
không có đời sống khác nữa". Ðại đức Kassapa liễu tri như vậy. Và đại đức
Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
35. 14 vấn đề vô ký
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Potthapada, trang 325~329
Bạch Thế
Tôn, vì sao Thế Tôn không trả lời?
Này
Potthapàda, câu hỏi này không thuộc về đích giải thoát, không thuộc về Pháp,
không thuộc căn bản của phạm hạnh, không đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch
diệt, đến tịch tịnh, đến thắng trí, đến giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy, Ta không
trả lời.
Bạch Thế
Tôn, vậy Thế Tôn trả lời những gì?
Này
Potthapàda, Ta trả lời: "Ðây là khổ". Ta trả lời: "Ðây là khổ tập". "Ta trả lời:
"Ðây là khổ diệt". Ta trả lời: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt".
Bạch Thế
Tôn, vì sao Thế Tôn trả lời?
Này
Potthapàda, câu hỏi này thuộc về đích giải thoát, thuộc về Pháp, thuộc căn bản
của phạm hạnh, đưa đến yểm ly, đến ly tham, đến tịch diệt, đến thắng trí, đến
giác ngộ, đến Niết bàn. Vì vậy Ta trả lời.…
Chúng tôi
không được biết Sa-môn Gotama đã thuyết trình dứt khoát những vấn đề sau đây:
"Thế giới là thường còn", hay "Thế giới là vô thường", hay "Thế giới là hữu
biên", hay "Thế giới là vô biên", hay "Sinh mạng và thân thể là một", hay "Sinh
mạng khác, thân thể khác", "hay Như Lai có tồn tại sau khi chết" hay "Như Lai
không tồn tại sau khi chết" hay "Như Lai tồn tại và cũng không tồn tại sau khi
chết", hay "Như Lai không tồn tại và cũng không không tồn tại sau khi chết".
36. Giới định tuệ
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Subha, trang 356~362
Này thanh
niên Bà-la-môn, Thế Tôn tán thán ba pháp uẩn và Ngài đã khích lệ, khuyến đạo, y
chỉ mọi người theo những pháp ấy. Ba pháp ấy là gì? Chính là Thánh giới uẩn,
Thánh định uẩn, Thánh tuệ uẩn. Thế Tôn tán thán ba pháp uẩn ấy. Ngài đã khích
lệ, khuyến đạo, y chỉ mọi người theo những pháp ấy.
Tôn giả
Ananda, thế nào là Thánh giới uẩn, Tôn giả Gotama tán thán và Ngài đã khích lệ,
khuyến đạo, y chỉ mọi người theo pháp ấy?....
37. Quan điểm của
đức Phật đối với vấn đề thần thông
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kevaddha, trang 363~369
Lần thứ
ba, cư sĩ trẻ tuổi Kevaddha Bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, con không muốn phiền
nhiễu Thế Tôn. Con chỉ nói: "Bạch Thế Tôn, Nalandà này có uy tín và phồn thịnh,
nhân dân đông đúc và tín kính Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn chỉ
giáo cho một Tỷ-kheo thị hiện thượng nhân pháp, thần thông biến hóa. Nhờ vậy
Nalandà này sẽ được nhiều người tín kính Thế Tôn hơn nữa".
Này
Kevaddha, có ba pháp thần thông này Ta đã tự mình giác ngộ và tuyên thuyết. Thế
nào là ba? Tức là biến hóa thần thông, tha tâm thần thông, giáo hóa thần thông.
Này
Kevaddha, thế nào là biến hóa thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo chứng
được các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân;
hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi, như đi ngang qua hư
không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi trên nước không
chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết- già đi trên hư không như con chim; với hai
bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai thần lực, đại oai
thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên. Có người tín thành thấy
Tỷ-kheo ấy chứng hiện các thần thông: một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân
hiện ra một thân: hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như
đi ngang qua hư không; độn thổ trồi lên, ngang qua đất liền như ở trong nước, đi
trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như
con chim, với bàn tay chạm và rờ mặt trời và mặt trăng; những vật có đại oai
thần lực, đại oai thần như vậy, có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.
Người có
lòng tín thành ấy nói với một người không có lòng tín thành: "Này Tôn giả, thật
vi diệu thay! Này Tôn giả, thật hy hữu thay, đại thần thông, đại oai đức của vị
Sa-môn! Chính tôi đã thấy vị Tỷ-kheo chứng các thần thông, "một thân hiện ra
nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân,... có thể tự thân bay đến cõi Phạm
thiên". Người không có lòng tín thành có thể nói với người có lòng tín thành:
"Này Tôn giả, có một chú thuật gọi là Gandhhàrì. Nhờ chú thuật hiện ra nhiều
thân, nhiều thân hiện ra một thân... có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên". Này
Kevaddha, ngươi nghĩ thế nào? Người không có lòng tín thành có thể nói với người
có lòng tín thành như vậy không?
Bạch Thế Tôn, có thể nói như
vậy.
Này
Kevaddha chính vì ta thấy sự nguy hiểm trong sự biến hóa thần thông mà ta nhàm
chán, hổ thẹn, ghê sợ biến hóa thần thông.
Này
Kevaddha, thế nào là tha tâm thần thông? Này Kevaddha, ở đời có Tỷ-kheo nói lên
tâm, nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm nói lên sự suy tư của các loài hữu tình
khác, của các người khác: "Như vậy là ý của Ngươi". Có người có lòng tín thành
thấy Tỷ-kheo nói lên tâm sở, nói lên sự suy tầm và nói lên sự suy tư của các
loài hữu tình khác, của các người khác: "Như vậy là ý của Ngươi, thế này là ý
của Ngươi, như vậy là tâm của Ngươi". …
Này
Kevaddha, thế nào là giáo hóa thần thông? Ở đời có Tỷ-kheo giáo hóa như sau:
"Hãy suy tư như thế này, chớ có suy tư như thế kia; hãy tác ý như thế này, chớ
có tác ý như thế kia; hãy trừ bỏ điều này, hãy chứng đạt và an trú điều kia".
38. Sự ra đời của đức Phật không nhằm giải quyết những vấn đề siêu hình không
thật tế
Kinh Trường Bộ 2, Kinh Ba
Lê, trang 270~
Này
Bhaggava, thuở xưa và rất xa xưa, Sunakkhatta thuộc bộ lạc Licchavi đến thăm Ta.
Sau khi đến, đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Này Bhaggava, Sumakkhatta, thuộc
bộ lạc Licchavi bạch với Ta: "Bạch Thế Tôn, nay con xin từ bỏ Thế Tôn. Bạch Thế
Tôn, nay con không sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn nữa."
Này
Bhaggava, khi nghe nói vậy, Ta nó với Sunakkhatta, thuộc bộ lạc Licchavi:
"- Này
Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây sống dưới sự chỉ
dẫn của Ta" chăng?
"- Bạch
Thế Tôn, không!
"- Hay
Ngươi có nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn"
chăng?
"- Bạch
Thế Tôn, không!
"- Này
Sunakkhatta, Ta không nói: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự chỉ dẫn
của Ta", và Ngươi cũng không nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ
dẫn của Thế Tôn". Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi
nói chuyện từ bỏ? Này kẻ ngu kia, hãy thấy sự lỗi lầm của Ngươi như vậy là thế
nào!
"- Bạch
Thế Tôn, nhưng Thế Tôn không khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần
thông.
"- Này
Sunakkhatta, Ta có nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới sự
chỉ dẫn của Ta! Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần
thông" chăng?
"- Bạch
Thế Tôn, không!
"- Ngươi
có nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn. Thế Tôn
sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần thông" chăng?
"- Bạch
Thế Tôn, không!
"- Này
Sunakkhatta, Ta không nói với Ngươi: "Này Sunakkhatta, hãy đến đây và sống dưới
sự chỉ dẫn chủ Ta, Ta sẽ khiến cho Ngươi chứng được các pháp thượng nhân thần
thông; Ngươi cũng không nói với Ta: "Bạch Thế Tôn, con sẽ sống dưới sự chỉ dẫn
của Thế Tôn, và Thế Tôn sẽ khiến cho con chứng được các pháp thượng nhân thần
thông." Này kẻ ngu kia, như vậy thời Ngươi là ai và Ta là ai mà Ngươi nói chuyện
từ bỏ? Này Sunakkhatta, nhà Ngươi nghĩ thế nào? Các pháp thượng nhân thần thông
có thực hiện hay không thực hiện, nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp
là đưa người thực hành đến chỗ tận diệt khổ đau, có phải như vậy không?
"- Bạch
Thế Tôn, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện, nhưng
mục đích mà Thế Tôn thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận
diệt khổ đau, chính thật là như vậy.
"- Này
Sunakkhatta, các pháp thượng nhân thần thông có thực hiện hay không thực hiện,
nhưng mục đích mà Ta thuyết giảng Chánh pháp là đưa người thực hành đến chỗ tận
diệt khổ đau. Này Sunakkhatta, như vậy thời các pháp thượng nhân thần thông là
gì mà cần phải thực chứng? Này kẻ ngu kia, hãy thấy lỗi lầm của Ngươi như vậy là
như thế nào! …..
39. Hiện tại là quan trọng
Kinh Trường Bộ 2, Kinh Thanh Tịnh, trang
466~467
Này Cunda,
nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không
trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, nhưng
không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ
là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy.
Này Cunda,
nếu những gì thuộc vị lai là hy vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không
trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai là chơn chánh, như thật, nhưng
không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc vị lai
là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy một
cách vắn tắt.
Này Cunda,
nếu những gì thuộc hiện tại là hư vọng, không thật, không lợi ích, Như Lai không
trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện tại và chơn chánh, như thật, nhưng
không lợi ích, Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc hiện
tại là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết thời trả lời câu hỏi ấy.
Như vậy, này Cunda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị
nói phải thời nói chơn chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng Pháp, nói
đúng Luật. Do vậy mới gọi là Như Lai.
40. 3 loại đạo sư đáng được chỉ trích
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Lohicca, trang 393~396
Này
Lohicca, ở đời có ba vị đạo sư đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy,
sự chỉ trích của vị này chơn chánh, hợp pháp, không lỗi lầm. Thế nào là ba?
Này
Lohicca, ở đời có một vị đạo sư không chứng mục đích của Sa-môn quả mà mọi người
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục
đích Sa-môn quả, vị này thuyết pháp cho các đệ tử: "Như thế này là lợi ích cho
các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người!" Những đệ tử này không nghe
lời dạy của vị ấy, không để tai ghi nhận, không trú tâm phát xuất từ hiểu biết
và sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư…Này Lohicca, như vậy là hạng đạo
sư thứ nhất đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ trích của
vị này chơn chánh, hợp pháp, không lỗi lầm.
Lại nữa,
này Lohicca, ở đời có vị đạo sư không chứng mục đích của Sa-môn quả mà mọi người
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục
đích Sa-môn quả ấy, vị này thuyết pháp cho các đệ tử: "Như thế này là lợi ích
cho các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người!". Những đệ tử này nghe
lời dạy của vị ấy, lóng tai ghi nhận và trú tâm phát xuất từ hiểu biết, nhưng
sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư….. Này Lohicca, như vậy là hạng đạo
sư thứ hai đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ trích của vị
này chơn chánh, hợp pháp, không sai lầm.
Lại nữa,
này Lohicca, ở đời có vị đạo sư không chứng mục đích của Sa-môn quả mà mọi người
xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Không chứng được mục
đích Sa-môn quả ấy, vị này thuyết pháp cho các đệ tử: "Như thế này là lợi ích
cho các người! Như thế này là hạnh phúc cho các người". Những đệ tử này không
nghe lời dạy của vị ấy, không lóng tai nghi nhận, không trú tâm xuất phát từ
hiểu biết, sống trái ngược với giáo pháp của vị bổn sư…. Này Lohicca, như vậy là
hạng đạo sư thứ ba đáng bị chỉ trích và ai chỉ trích đạo sư như vậy, sự chỉ
trích của vị này chơn chánh, hợp pháp, không lỗi lầm.
41. Người mù
dẫn người đui
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Tevijja (Tam Minh), trang 409
Này Vàsettha, những Bà-la-môn
tinh thông ba tập Vedà không biết, không thấy con đường đưa đến cộng trú với
Phạm thiên mà thuyết dạy: "Ðây là trực đạo, đây là chánh đạo hướng đến, dẫn đến
cộng trú với Phạm thiên cho những ai thực hành theo", thật không thể có sự kiện
ấy. Này Vàsettha, ví như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không
thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Như vậy, này
Vàsettha lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà, người đầu không
thấy, giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy, giống như lời nói
mù quáng. Lời nói của những Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedà như vậy là lời nói
đáng chê cười, là lời nói suông, là lời nói không tưởng, là lời nói trống rỗng.
42. 4 Vô Lượng Tâm
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Tevijja (Tam Minh), trang 426~428
Ở đây, này
Vàsettha, Tỷ-kheo từ bỏ sát sinh, tránh xa sát sinh... do lạc thọ, tâm được
định tĩnh... chứng và trú thiền thứ nhất, ... (như kinh Sa-môn quả, đoạn kinh số
43-75).
Vị ấy an
trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng
vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên,
dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến
mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Này
Vàsettha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương,
không có gì khó khăn, cũng vậy này Vàsettha, đối với mọi hình thức của sự sống,
không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát, câu
hữu với từ. Này Vàsettha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
Lại nữa,
này Vàsettha, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi...
với tâm câu hữu với hỷ... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy
phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng
khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận,
không sân.
Này
Vàsettha, như người lực sĩ thổi tù và khiến tiếng được nghe khắp bốn phương,
không có gì khó khăn, cũng vậy này Vàsettha, đối với mọi hình thức của sự sống,
không có ai là vị ấy bỏ qua hay bỏ sót mà không biến mãn với tâm giải thoát,
cùng khởi với xả. Này Vàsettha, đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm
thiên.
43. Chuyện tiền
thân
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bổn, trang 431
44. Truyền thuyết 7 vị Phật
trong quá khứ
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bổn, trang 433~462
Này các
Tỷ-kheo, chín mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn Vipassì (Tỳ-bà-thi), bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, ba mươi mốt kiếp về trước, Thế Tôn
Sikhì (Thi-khí) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng
trong ba mươi mốt kiếp ấy, Thế Tôn Vessabhù (Tỳ-xá-bà) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kakusandha
(Câu-lâu-tôn) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong
tiền kiếp ấy, Thế Tôn Konàgamana (Câu-na-hàm) bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra
đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời. Này các Tỷ-kheo, cũng trong tiền kiếp ấy, nay
Ta, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ra đời.
Này các
Tỷ-kheo, Thế Tôn Vipasì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sanh thuộc chủng tánh
Sát-đế-lỵ, sanh trong giai cấp Sát-đế-lỵ….
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy, Bồ-tát Vipassì, sau khi từ giã cảnh giới Ðâu-suất
thiên, chánh niệm tĩnh giác nhập vào mẫu thai. Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như
vậy. Khi Bồ-tát Vipassì từ giã cảnh giới Ðâu-suất thiên, chánh niệm tĩnh giác
nhập vào mẫu thai, khi ấy một hào quang vô lượng, thần diệu, thắng xa oai lực
của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới, gồm có các thế giới ở trên chư Thiên,
thế giới của các Ma vương và Phạm thiên và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn,
Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế
giới, không có nền tảng, tối tăm, u ám, những cảnh giới mà mặt trăng mặt trời
với đại thần lực, đại oai đức như vậy cũng không thể chiếu thấu, trong những
cảnh giới ấy một hào quang vô lượng, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và
các chúng sanh sống tại những chỗ ấy, nhờ hào quang ấy mới thấy nhau và nói:
"Cũng có những chúng sanh khác sống ở đây". Và mười ngàn thế giới chuyển động,
rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng, thần diệu ấy, thắng xa oai
lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ -tát nhập mẫu thai, bốn vị Thiên tử đứng
canh gác bốn phương trời và nói: "Không cho một ai, người hay không phải loài
người, được hãm hại vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy".
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát giữ giới
một cách hồn nhiên, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo,
không uống các thứ rượu men, rượu nấu. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không
khởi dục tâm đối với một nam nhân nào, và không vị phạm tiết hạnh với bất kỳ
người đàn ông nào dầu người này có tâm ái nhiễm đối với bà. Pháp nhĩ là gì vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát có được
năm món dục lạc đầy đủ, tận hưởng, trọn hưởng năm món dục lạc ấy. Pháp nhĩ là
như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không bị
một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong
bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay.
Này các
Tỷ-kheo, ví như viên ngọc lưu ly, thanh tịnh, thuần nhất, có tám cạnh, khéo cắt,
khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Rồi một sợi
dây được xâu qua viên ngọc ấy, dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu
vàng lợt. Nếu có người có mắt để viên ngọc trên bàn tay của mình, người ấy sẽ
thấy rõ ràng: "Ðây là viên ngọc lưu ly, thanh tịnh thuần nhất, có tám cạnh, khéo
cắt khéo giũa, trong sáng, không tỳ vết, hoàn hảo trong mọi phương diện. Ðây là
sợi dây xâu qua, sợi dây màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng hay màu vàng
lạt". Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi vị Bồ-tát nhập mẫu thai, mẹ vị Bồ-tát không
một bệnh tật gì. Bà sống với tâm hoan hỷ, với thân khoan khoái. Bà thấy trong
bào thai của mình vị Bồ-tát đầy đủ mọi bộ phận và chân tay. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Sau khi sanh vị Bồ-tát bảy ngày, mẹ vị Bồ-tát mệnh
chung và sanh lên cảnh trời Ðâu suất. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác mang bầu thai
trong bụng chín tháng hay mười tháng rồi mới sanh, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát
không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát mang vị Bồ-tát trong bụng mười tháng trời mới
sanh. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Trong khi các người đàn bà khác, hoặc ngồi, hoặc
nằm mà sanh con, mẹ vị Bồ-tát sanh vị Bồ-tát không phải như vậy. Mẹ vị Bồ-tát
đứng mà sanh vị Bồ-tát. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, chư Thiên đỡ lấy
Ngài trước, sau mới đến loài người. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, vị Bồ-tát không
đụng đến đất. Có bốn Thiên tử đỡ lấy Ngài, đặt Ngài trước bà mẹ và thưa: "Hoàng
hậu hãy hoan hỷ. Hoàng hậu sanh một bậc vĩ nhân". Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra
thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ
nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào, không bị nhiễm ô bởi bất cứ vật bất tịnh
nào, thanh thịnh, trong sạch. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, như viên ngọc ma-ni bảo châu đặt trên một tấm vải Ba-la-nại. Hòn ngọc
không làm nhiễm ô tấm vải Ba-la-nại, tấm vải Ba-la-nại cũng không làm nhiễm ô
hòn ngọc. Vì sao vậy? Vì cả hai đều thanh tịnh. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo. Khi
vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, Ngài sanh ra thanh tịnh, không bị nhiễm ô bởi nước
nhớt nào, không bị nhiễm ô bởi loại mủ nào, không bị nhiễm ô bởi loại máu nào,
không bị nhiễm ô bởi bất cứ sự vật bất tịnh nào, thanh tịnh, trong sạch. Pháp
nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, hai dòng nước từ
hư không hiện ra, một dòng lạnh, một dòng nóng. Hai dòng nước ấy tắm rửa sạch sẽ
cho vị Bồ-tát và cho bà mẹ. Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng
trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che
trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời
như sau: "Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là
bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở
đời này nữa". Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Khi vị Bồ-tát từ bụng mẹ sanh ra, khi ấy một hào
quang vô lượng thần diệu, thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế
giới, gồm có các thế giới trên chư Thiên, thế giới của các Ma vương và Phạm
thiên, và thế giới ở dưới gồm các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các vị hoàng tử và dân
chúng. Cho đến các cảnh giới ở giữa các thế giới, không có nền tảng, tối tăm, u
ám, những cảnh giới mà mặt trăng, mặt trời với đại thần lực, đại oai đức như vậy
cũng không thể chiếu thấu, trong những cảnh giới ấy, một hào quang vô lượng,
thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra. Và các chúng sanh sống tại những chỗ ấy,
nhờ hào quang ấy mới thấy nhau mà nói: "Cũng có những chúng sanh khác sống ở
đây". Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào
quang vô lượng thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra ở thế giới.
Pháp nhĩ là như vậy.
Này các
Tỷ-kheo, khi hoàng tử Vipassì sinh ra, vua Bandhumà được báo tin: "Ðại vương đã
được sinh một hoàng tử". Này các Tỷ-kheo, khi thấy hoàng tử xong, vua Bandhumà
liền cho mời các vị Bà-la-môn đoán tướng và nói: "Này các Hiền giả, hãy xem
tướng cho Hoàng tử". Này các Tỷ-kheo, khi xem tướng Hoàng tử Vipassì xong, các
vị Bà-la-môn đoán tướng tâu với vua Bandhumà: "Ðại vương hãy hân hoan; Ðại vương
đã sinh một bậc vĩ nhân! May mắn thay cho Ðại vương, đại hạnh thay cho Ðại vương
đã được một Hoàng tử như vậy sanh trong gia đình. Tâu Ðại vương, Hoàng tử này có
đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân. Ai có đủ ba mươi hai tướng tốt
này sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại
gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương, dùng chánh pháp trị
nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy
món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc
báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tương quân báu. Vị này có đến hơn một
ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục
cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng,
không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này
sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời".
"Ðại
vương, ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân là gì mà Hoàng tử nếu đầy đủ những
tướng tốt này sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào khác. Nếu sống
tại gia đình, vị này sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương dùng chánh pháp
trị nước, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc lộ, đầy đủ bảy món báu.
Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu,
ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một
ngàn thái tử, những bậc anh hùng, lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục
cõi đất này cho đến hải biên và trị nước với chánh pháp, không dùng trượng,
không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình, xuất gia sống không gia đình, vị này
sẽ thành bậc A-la-hán. Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời.
"Ðại
vương, Hoàng tử này có lòng bàn chân bằng phẳng, tướng này được xem là tướng tốt
của bậc Ðại nhân.
"Ðại
vương, dưới hai bàn chân của Hoàng tử này, có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm
xe, với trục xe, vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ, tướng này được xem
là tướng của bậc Ðại nhân. "Ðại vương, Hoàng
tử này có gót chân thon dài... (như trước) "Ðại
vương, Hoàng tử này có ngón tay, ngón chân dài...
"Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân mềm mại...
"Ðại vương, Hoàng tử này có tay chân có màn da lưới...
"Ðại vương, Hoàng tử này có mắt cá tròn như con sò...
"Ðại vương, Hoàng tử này có ống chân như con dê rừng...
"Ðại vương, Hoàng tử này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể rờ từ đầu
gối với hai bàn tay... "Ðại vương, Hoàng tử
này có tướng mã âm tàng... "Ðại vương, Hoàng
tử này có màu da như đồng, màu sắc như vàng...
"Ðại vương, Hoàng tử này có da trơn mướt khiến bụi không thể bám dính vào...
"Ðại vương, Hoàng tử này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có
một lông... Ðại vương, Hoàng tử này có lông
mọc xoáy tròn thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt,
xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt...
"Ðại vương, Hoàng tử này có thân hình cao thẳng...
"Ðại vương, Hoàng tử này có bảy chỗ tròn đầy...
"Ðại vương, Hoàng tử này có nửa thân trước như con sư tử...
"Ðại vương, Hoàng tử này không có lõm khuyết giữa hai vai...
"Ðại vương, Hoàng tử này có thân thể cân đối như cây bàng (nigrodha:
ni-câu-luật). Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của
hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân...
"Ðại vương, Hoàng tử này có bán thân trên vuông tròn... "Ðại vương, Hoàng tử này có vị giác hết sức sắc bén...
"Ðại vương, Hoàng tử này co quai hàm như con sư tử..
"Ðại vương, Hoàng tử này có bốn mươi răng...
"Ðại vương, Hoàng tử này có răng đều đặn...
"Ðại vương, Hoàng tử này có răng không khuyết hở...
"Ðại vương, Hoàng tử này có răng cửa (thái xỉ) trơn láng...
"Ðại vương, Hoàng tử này có tướng lưỡi rộng dài...
"Ðại vương, Hoàng tử này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim
ca-lăng-tần-già (Karavika)... "Ðại vương,
Hoàng tử này có hai mắt màu xanh đậm... "Ðại
vương, Hoàng tử này có lông mi con bò cái...
"Ðại vương, Hoàng tử này giữa hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng
như bông nhẹ... "Ðại vương, Hoàng tử này có
nhục kế trên đầu, tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân..
"Ðại
vương, Hoàng tử có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt của bậc Ðại nhân, với ba mươi
hai tướng tốt này, Hoàng tử sẽ chọn đi hai con đường, không có con đường nào
khác. Nếu sống tại gia đình, Hoàng tử sẽ trở thành vua Chuyển luân Thánh vương,
đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành sở hữu
của Ngài, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu, và thứ
bảy là tướng quân báu. Vị này có đến hơn một ngàn thái tử, những bậc anh hùng,
lực sĩ, chinh phục quân thù. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và
trị nước với chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu Hoàng tử từ bỏ
gia đình, xuất gia sống không gia đình, Hoàng tử sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời".
45. 12 nhân duyên
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bổn, trang 476~483
Này các
Tỷ-kheo, trong khi yên lặng tịnh cư tại chỗ thanh vắng, Bồ-tát Vipassì suy nghĩ:
"Thế giới này thật rơi vào cảnh khổ não, phải sanh rồi già, rồi chết, rồi từ bỏ
thế giới này để tái sanh thế giới khác. Không một ai biết một con đường giải
thoát khỏi sự đau khổ này, thoát khỏi già và chết".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, già chết mới có mặt? Do
duyên gì, già chết sanh?". Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý
tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do sanh có mặt, nên già, chết
có mặt. Do duyên sanh, già chết sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, sanh mới có mặt? Do duyên
gì, sanh phát khởi?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ, phát sanh minh kiến sau đây: "Do hữu có mặt nên sanh mới có mặt. Do
duyên hữu, nên sanh phát khởi".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, hữu mới có mặt? Do duyên
gì, hữu phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thủ có mặt nên hữu mới có mặt. Do
duyên thủ, hữu phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt thủ mới có mặt? Do duyên
gì, thủ phát sanh?". Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do ái có mặt, thủ mới phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, ái mới có mặt. Do duyên
gì, ái phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư duy,
nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thọ có mặt, ái mới có mặt. Do duyên
thọ, ái phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, thọ mới có mặt. Do duyên
gì, thọ mới phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do xúc có mặt, thọ mới có mặt. Do
duyên xúc, thọ mới phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, xúc mới có mặt. Do duyên
gì xúc mới phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do lục nhập có mặt, xúc mới có
mặt. Do duyên lục nhập, xúc mới phát sanh ".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, lục nhập mới có mặt. Do
duyên gì, lục nhập mới phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi
như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do danh sắc có mặt, lục
nhập mới có mặt. Do duyên danh sắc, lục nhập mới phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, danh sắc mới có mặt? Do
duyên gì, danh sắc mới phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi
như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thức có mặt, danh
sắc có mới có mặt. Do duyên thức, danh sắc mới phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì có mặt, thức mới có mặt. Do duyên
gì, thức mới phát sanh?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do danh sắc có mặt, thức mới có
mặt. Do duyên danh sắc, thức mới phát sanh".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ như sau: "Thức này xoay trở lui lại, từ nơi
danh sắc, không vượt khỏi danh sắc. Chỉ như thế này, con người được sanh ra hay
trở thành già, hay bị chết, hay từ biệt cõi này, hay sanh lại ở cõi khác, nghĩa
là do duyên danh sắc, thức sanh; do duyên thức, danh sắc sanh; do duyên danh
sắc, lục nhập sanh; do duyên lục nhập, xúc sanh; do duyên xúc, thọ sanh; do
duyên thọ, ái sanh; do duyên ái, thủ sanh; do duyên thủ, hữu sanh; do duyên hữu,
sanh sanh; do duyên sanh, lão, tử, sầu bi, khổ ưu não sanh. Như vậy là sự tập
khởi của toàn bộ khổ uẩn này".
"Tập khởi,
tập khởi". Này các Tỷ-kheo, từ nơi Bồ-tát Vipassì, khởi sanh pháp nhãn từ trước
chưa từng được nghe, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, ánh sáng sanh.
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, già chết không có
mặt? Cái gì diệt, già chết diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi
như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do sanh không có mặt,
già chết không có mặt, do sanh diệt, già chết diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, sanh không có
mặt? Cái gì diệt, sánh diệt!. Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như
lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do hữu không có mặt, sanh
không có mặt, do hữu diệt, sanh diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, hữu không có mặt?
Cái gì diệt, hữu diệt?". Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thủ không có mặt, hữu không có
mặt, do thủ diệt, hữu diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, thủ không có mặt?
Cái gì diệt, thủ diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do ái không có mặt, thủ không có
mặt, do ái diệt, thủ diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, ái không có mặt?
Cái gì diệt, ái diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thọ không có mặt, ái không có
mặt, do thọ diệt, ái diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, thọ không có mặt?
Cái gì diệt, thọ diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do xúc không có mặt, thọ không có
mặt, do xúc diệt, thọ diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt xúc không có mặt?
Cái gì diệt, xúc diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý tư
duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do lục nhập không có mặt, xúc
không có mặt, do lục nhập diệt, xúc diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì có mặt, lục nhập không có mặt?
Cái gì diệt, lục nhập diệt". Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý
tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do danh sắc không có mặt, lục
nhập không có mặt, do danh sắc diệt, lục nhập diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Do cái gì không có mặt, danh sắc không có
mặt? Cái gì diệt danh sắc diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi
như lý tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do thức không có mặt,
danh sắc không có mặt, do thức diệt, danh sắc diệt".
Này các
Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì suy nghĩ: "Cái gì không có mặt, thức không có mặt?
Do cái gì diệt, thức diệt?" Này các Tỷ-kheo, rồi Bồ-tát Vipassì, sau khi như lý
tư duy, nhờ trí tuệ phát sanh minh kiến sau đây: "Do danh sắc không có mặt, thức
không có mặt, do danh sắc diệt, thức diệt".
46. Bảy pháp bất
thối
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 547 ~548
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm
đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng
Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành,
không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được
ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy
giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc
Tỷ-kheo thượng tọa những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp
trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời dạy của
những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị
suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác
thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các
Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu
thiện chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống
an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy
giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào
các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng
Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
549~550
Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ
làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm
luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo,
chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ,
không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác
dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy
giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng, không thân tín ác dục
vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng, giữa sự đạt đáo những quả
vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này các
Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào
các vị Tỷ-kheo được dạy bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng
Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
47. Năm điều nguy
hiểm cho những ai sống phạm giới
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn, trang 561~562
Này các
Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật. Thế
nào là năm?
Ở đây, này
các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất
nhiều vì sống phóng dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm giới,
sống trái giới luật.
Lại nữa,
này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là
điều nguy hiểm thứ hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa,
này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật khi vào hội chúng nào,
hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn, hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với
tâm thần sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những ai phạm giới,
sống trái giới luật.
Lại nữa,
này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sẽ chết với tâm hồn rối
loạn. Ðó là điều nguy hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại nữa,
này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới luật sau khi thân hoại mạng
chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm
thứ năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
48. Tám nguyên nhân làm
cho trái đất rung động
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn, trang 593~594
Này
Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn động. Thế nào là tám? Này
Ananda, đại địa này thiết lập trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không.
Này Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm nổi sóng nước, và
khi nước nổi sóng thì quả đất rung động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất,
đại địa chấn động.
Lại nữa
này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, tâm được chế ngự, hay hàng
chư Thiên có đại thần thông, có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn,
quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này rung động, chuyển động
mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên thứ hai khiến đại địa chấn động.
Lại nữa,
này Ananda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất) từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh
giác, nhập vào mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động
mạnh. Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.
Lại nữa,
này Ananda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác, ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả
đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ tư
khiến đại địa chấn động.
Lại nữa,
này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả
đất rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm
khiến đại địa chấn động.
Lại nữa,
này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả đất này rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa
chấn động.
Lại nữa,
này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ bỏ, không duy trì mạng sống,
khi ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy,
duyên thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
Lại nữa,
này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi ấy quả đất này rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa
chấn động. Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại địa chấn động.
49. A Nan không thỉnh Phật
trụ thêm ở đời
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 586
Này
Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc
chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống
đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc,
tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện,
thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp
còn lại.
Nhưng Tôn
giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng
của Thế Tôn; tôn giả không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp vì lợi ích cho chúng
sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Vì tâm tôn giả bị Ma vương ám
ảnh.. Nhưng sau đó tôn giả A Nan lại cung thỉnh Phật trụ ở đời thêm một thời
gian nữa như đã được ghi như sau:
Khi được
nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến
trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì
hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc
cho loài Trời và loài Người.
Thôi đi,
này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ananda, nay thỉnh cầu Như Lai
không còn kịp thời. Lần thứ hai, tôn giả Ananda... Lần thứ ba, tôn giả Ananda
bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn,
Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì
lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Này
Ananda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?
Bạch Thế
Tôn, con có tin!
Vậy, này
Ananda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.
Bạch Thế
Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe Thế Tôn dạy như sau: "Này Ananda,
những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, người ấy có thể sống đến
một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc...
Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại".
Này
Ananda, Ngươi có tin tưởng không?
Bạch Thế
Tôn, con có tin tưởng!
Này
Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi, đã không
nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi
không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp,
Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc
cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an
lạc cho loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi thỉnh Như Lai, Như Lai
có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời.
Này Ananda như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi.
50. Sự kiện A Nan lấy
nước đục cho Phật uống
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 626~627
Này
Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn uống nước.
Khi được
nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy
qua. Do bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch
Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong
sáng, dễ đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân
tay.
Lần thứ
hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda: Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay
đang khát và muốn uống nước.
Lần thứ
hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn: Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do
bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động và vẩn đục. Bạch Thế Tôn,
sông Kakutthà không xa ở đây, nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ
đến và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm dịu mát chân tay.
Lần thứ
ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda: Này Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay
đang khát và muốn uống nước.
Xin vâng,
bạch Thế Tôn!
Tôn giả
Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông
cạn, khuấy động và vẩn đục, khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo,
sáng lặng, không vẩn đục.
51. Lấy Kinh điển là tiêu chuẩn để biết người khác nói đùng pháp hay phi pháp
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn, trang 619~621
Này các
Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: "Tại trú xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng
tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ,
như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các
Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo
ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi
kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật, nếu chúng không phù
hợp với Kinh, không tương ứng với Luật thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc
chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai
lầm". Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh,
đem đối chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với luật, thời
các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn,
và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp
thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.
Này các Tỷ-kheo, có thể có vị
Tỷ-kheo nói: "Tại trú xứ kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc
đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự thân nghe
từ miệng những vị Thượng tọa ấy, tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là
Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên
tán thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy
báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với
Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật, và
nếu không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, và nếu chúng phù hợp với
Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời
này không phải là lời Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và, này các
Tỷ-kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với
Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời ấy phải là lời dạy
của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là
Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.
52. Bốn
thánh tích của Phật
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 643~644
Này
Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế
nào là bốn?
"Ðây là
chỗ Như Lai đản sanh". Này Ananda, đó là thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm
ngưỡng và tôn kính.
"Ðây là
chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác", này Ananda, đó là Thánh tích,
kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
"Ðây là
chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện
tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
"Ðây là
chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn", này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ
thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
Này Ananda, đó là bốn Thánh
tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các
thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư si nữ sẽ đến với niềm suy tư: "Ðây
là chỗ Như Lai đản sanh", "Ðây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác", "Ðây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng", "Ðây là chỗ Như
Lai diệt độ, Nhập Vô dư y Niết-bàn".
53. Vấn đề trà tì và xá lợi của Phật
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 645~646
Bạch Thế
Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như Lai như thế nào?
Này
Ananda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính thân xá-lợi của Như Lai. Này
Ananda, các Người hãy nỗ lực, hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật,
cần mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ananda, có những học giả Sát-đế-lỵ, những
học giả Bà-la-môn, những học giả gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo
cho sự cung kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.
Bạch Thế
Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế nào?
Này
Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào, hãy xử sự thân xá-lợi
Như Lai như vậy.
Bạch Thế
Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương như thế nào?
Này
Ananda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn với vải mới. Sau khi vấn
vải mới xong, lại được vấn thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bệnh, lại
vấn thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả hai loại vải.
Rồi thân được đặt vào trong một hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt
khác đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng lên, thân của
vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường,
tháp của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này Ananda, đó là pháp
táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.
Này
Ananda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế nào, pháp táng thân
Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và
những ai đem tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh lễ tháp,
hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp), thời những người ấy sẽ được lợi
ích, hạnh phúc lâu dài.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn, trang 680~682
Vua nước
Magadha tên là Ajàtasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà.
Vua liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà "Thế Tôn là người
Sát-đế-lỵ, ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được một phần xá lợi
Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn".
Những
người Licchavì ở Vesàli nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà liền gởi một sứ
giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng
là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi
cũng dựng tháp và tổ chức nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn".
Các người
Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả
đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là
người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng
tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn".
Những
người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ
giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng
là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn. Chúng
tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn".
Những
người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà , liền gởi một sứ
giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng
là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng
tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn."
Bà-la-môn
Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các
người Mallà ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi
cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức
các nghi lễ đố