Sách

Những
vấn đề cốt lõi trong
Kinh
Trường Bộ
Biên soạn: Thích Hạnh Bình
Mục lục
1.
Người Bà la môn nói về Đức Phật
2. 8
điểm đặc thù của đức Phật
3. Thái độ của đức Phật đối với lời khen chê
4. Sự Kiện đức Phật ăn trúng nấm độc viên tịch
5.
Quan điểm trị nước của đức Phật
6. Xác định đức Phật là vị toàn tri toàn kiến
7. Lời di chúc của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết bàn
8. Lời dạy của Phật nhằm mục đích dứt trừ phiền não ở hiện tại và ngày mai
9. Quan điểm của đức Phật đối với vấn đề giới luật
10. Có thể
bỏ những giới nhỏ
11. 62 kiến
của ngoại đạo
12. Phạm Thiên
13. Chủ trương của phái phủ nhận giá trị đạo đức (Pùrana Kassapa)
14. Chủ trương của phái định mệnh (Makkhali Gosàla)
15. Chủ trương của Phái hoài nghi (sanjaya)
16. Chủ trương của phái đoạn diệt (Ajita Kesakambàli)
17. Chủ trương của phái duy vật (Pakudha Kaccàyana)
18. Chủ trương của phái khổ hạnh (Nigantha Nàtaputta)
19. Phật giáo chịu ảnh hưởng những tín ngưỡng dân gian và tập quán của xã hội
20. Chế độ giai cấp
21. Thái độ trọng mình khinh người của giai cấp Bà la môn
22. Cái nhìn của Bà La Môn đối với Phật giáo
23. 5 đức tánh hay tư cách của một vị Bà La Môn
24. Cái nhìn của đức Phật đối với 4 giai cấp
25. Vấn đề 32
tướng tốt
26. Mối quan hệ mật thiết giữa trí tuệ và giới hạnh
27.
Tập tục tế đàn của Bà La Môn
28.
Phương pháp tế đàn của đức Phật
29. 6 phương
30. Quá trình
chứng quả
31.
Tu tập khổ hạnh của ngoại đạo
32. Quan điểm của đức Phật đối với vấn đề tu tập khổ hạnh
33. Người ngoại đạo muốn xuất gia phải sống 4 tháng biệt trú
34. Xác định Tôn giả Kassapa đã chứng quả A la hán
35. 14 vấn đề vô ký
36. Giới định tuệ
37. Quan điểm của đức Phật đối với vấn đề thần thông
38. Sự ra đời của đức Phật không nhằm giải quyết những vấn đề siêu hình không
thật tế
39. Hiện tại
là quan trọng
40. 3 loại đạo sư đáng được chỉ trích
41. Người mù
dẫn người đui
42. 4 Vô Lượng Tâm
43. Chuyện tiền
thân
44. Truyền thuyết 7 vị Phật trong quá khứ
45. 12 nhân duyên
46. Bảy pháp bất
thối
47. Năm điều nguy hiểm cho những ai sống phạm giới
48. Tám nguyên nhân làm cho trái đất rung động
49. A Nan không thỉnh Phật trụ thêm ở đời
50. Sự kiện A Nan lấy nước đục cho Phật uống
51. Lấy Kinh điển là tiêu chuẩn để biết người khác nói đùng pháp hay phi pháp
52. Bốn
thánh tích của Phật
53. Vấn đề trà tì và xá lợi của Phật
54.
Bốn đức tính đặc thù của A Nan
55.
Vấn đề nơi Thế Tôn nhập diệt
56. Liên quan đến cảnh giới cực lạc trong Kinh A Di Đà
57. Lý do mà Ngài Ca Diếp Kết tập Luật Tạng
58. Thế Tôn tuyên bố các loài hữu tình sanh chỗ này chỗ kia
59. Phật giáo ở thời đại vua A Dục đã phát triển đến những địa phương khác
60. Tu tập là sự phận biệt giữa thiện và bất thiện
61. Không có hai vị Phật xuất hiện cùng lúc
62.
Đức Phật là người không có bịnh
63. Tứ Niệm xứ
64. Nương tựa
chính mình
65. Truyền thống 7 báu của vua chuyển luân Thánh vương
66. Thế nào gọi là một Chuyển Luân Thánh Vương chánh pháp
67.
Vấn đề tuối thọ
68. Nghèo đói là nguyên nhân của mọi tội lỗi
69. Quá trình hình thành nhân sanh và vũ trụ
70. Sự kiện phái Kỳ Na giáo phân phái
71. Nội dung kiết tập kinh điển và lý do tại sao kiết tập
72. Thái độ khách quan của đức Phật khi phê bình những tôn giáo khác
73.
Lễ bái 6 phương
74. Những hạng người không nên kết bạn
Nội dung
1. Người Bà la môn nói về Đức Phật
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Sonadanda, trang 205~210;
Cũng trong
kinh này, trang số 223 Bà
la môn Sonadanda nói về
đức Phật như sau; “Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật là vi diệu thay,
Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã
xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn
sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy chánh pháp
đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Vậy nay con
xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama
nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Và mong Tôn giả Gotama, ngày mai cùng chúng Tỷ-kheo nhận lời mời đến dùng cơm do
con mời.”; Cũng giống như Kinh Kutadanta trang 231~239.
2. 8
điểm đặc thù của đức Phật
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Đại Điển Tôn, trang 84~87
"- Này chư
Thiện hữu ở Tam thập tam thiên các vị nghĩ thế nào? Như Lai dấn thân vì hạnh
phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và lời Người. Một vị Ðại sư dấn thân vì hạnh
phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
hạnh phúc vì an lạc cho loài Trời và loài Người như vậy, một vị Ðại sư đầy đủ
đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng như trong
hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Chánh
pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, một Chánh pháp thiết thực hiện tại,
vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ người có trí
tự mình giác hiểu. Một vị Giảng sư thuyết pháp hướng thượng như vậy, một vị Ðạo
sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ cũng
như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Ðây là
thiện", "đây là bất thiện" đã được Thế Tôn khéo giải thích. "Ðây có tội", "đây
không tội", "đây cần phải tuân theo", "đây cần phải né tránh", "đây là hạ liệt",
"đây là cao thượng", "đây là đen trắng đồng đẳng", được Thế Tôn khéo giải thích.
Một vị khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải
thuận theo, cần phải né tránh, hạ liệt, cao thượng, đen trắng đồng đẳng, một vị
Ðại sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy được trong quá khứ,
cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Con đường
đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử, Niết-bàn và con đường phối hợp thành một, đã
được Thế Tôn khéo giải thích như nước sông Hằng phối hợp và cùng chảy với nước
sông Yamuna (Diệm-mâu-na). Cũng vậy con đường đưa đến Niết-bàn cho các đệ tử,
Niết-bàn và con đường phối hợp thành một đã được Thế Tôn khéo giải thích. Một vị
khéo giải thích con đường hướng đến Niết-bàn như vậy, một vị Ðạo sư đầy đủ đức
tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong
hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Thế Tôn
cũng đã đào tạo được chúng thiện hữu Hữu học đang đi trên nẻo đạo và các vị Lậu
tận đã hoàn tất Thánh đạo. Ngài không di tản chúng nhưng sống cùng chung một
niềm hòa hợp lạc trú. Một vị sống cùng chung một niềm hòa hợp lạc trú, một Ðạo
sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như
trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Lợi dưỡng
cúng dường cho Thế Tôn đã được an bài chắc chắn, danh tiếng cũng đã được an bài
chắc chắn, và con nghĩ rằng các vị Sát-đế-lỵ (Khattiyà) sống với gương mặt rất
quý mến Ngài. Nhưng Thế Tôn sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn.
Một vị sống thọ hưởng các lợi dưỡng với tâm không kiêu mạn như vậy, một vị Ðạo
sư đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như
trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Thế Tôn
nói gì thời làm vậy, làm gì thời nói vậy. Một vị nói gì thời làm vậy, làm gì
thời nói vậy, thành tựu các pháp và tùy pháp như vậy, làm gì thời nói vậy, thành
tựu các pháp và túy pháp như vậy. Một vị đầy đủ đức tánh như vậy, chúng ta thật
khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế Tôn.
"Thế Tôn
đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được thỏa mãn về tâm nguyện và
tối sơ phạm hạnh. Một vị đã vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi suy tư được
thỏa mãn về tâm nguyện và tối sơ phạm hạnh, một bậc Ðạo sư đầy đủ đức tánh như
vậy, chúng ta thật khó tìm thấy trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Thế
Tôn.
3. Thái độ của đức Phật
đối với lời khen chê
Trường Bộ 1, Kinh Phạm
Võng, trang 13~15
Này các
Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi
chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các
Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các
ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại
cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu
các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của
những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?
Bạch Thế
Tôn, không thể được!
Này các
Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi
phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - "Như thế này,
điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này
không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi".
Này các
Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các
ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. Này các Tỷ-kheo, nếu
có người tán thán ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, mà nếu các ngươi hoan hỷ,
vui mừng và thích thú thời sẽ có hại cho các ngươi. Này các Tỷ-kheo, nếu có
người tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thời các ngươi hãy công nhận
những gì đúng sự thật là đúng sự thật: "Như thế này, điểm này đúng sự thật, như
thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa
chúng tôi".
Này các
Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới
luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai. Này các Tỷ-kheo, thế nào là những vấn đề
không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai?
Sa-môn
Gotama từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có
lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và loài hữu tình.
Này các Tỷ-kheo, đó là lời tán thán Như Lai của kẻ phàm phu.
Này các
Tỷ-kheo, đấy là những vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà
kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai.
Này các
Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ
diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận
hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính
những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
Này các
Tỷ-kheo, thế nào là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu,
không thể nhận hiểu bởi luận lý suông, tế nhị, chỉ những người trí mới có thể
nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết, và
chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến?
(62 loại Tà kiến.
4. Sự Kiện đức Phật ăn
trúng nấm độc viên tịch
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn,
trang 624
Rồi Thế
Tôn nói với thợ sắt Cunda: Này Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào
một lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người, ở Ma giới, ở Phạm
thiên giới, không một người nào trong chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa
những Thiên, Nhân, ăn món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
Xin vâng,
bạch Thế Tôn!
Thợ sắt
Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn lại vào một lỗ, đi đến chỗ
Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt
Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ
rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Sau khi
dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn
gần như đến chết, và Thế Tôn chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn bệnh.
Rồi Thế
Tôn nói với tôn giả Ananda: Này Ananda, chúng
ta hãy đi đến Kusinàra. )
5.
Quan điểm trị nước của đức Phật
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Kutadanta, trang ?
Này
Bà-la-môn, khi nghe nói vậy, vị Bà-la-môn chủ tế tâu với vua Mahàvijita như sau:
"Ðại vương, vương quốc (này) chịu tai ương, chịu ách nạn, đầy rẫy bọn cướp làng,
đầy rẫy bọn cướp ấp, đầy rẫy bọn cướp đô thị, đầy rẫy bọn cướp đường. Trong quốc
độ chịu tai ương, chịu ách nạn như vậy, nếu Tôn vương đánh thuế má mới, như vậy
Tôn vương có ý nghĩ: "Ta hãy trừ diệt bọn giặc cỏ này, hoặc bằng tử hình, hoặc
bằng cấm cố, hoặc bằng phạt vạ, hoặc bằng khiển trách, hoặc bằng tẩn xuất".
Nhưng bọn giặc cỏ này sẽ không được trừ diệt một cách hoàn toàn. Những bọn còn
lại không bị hình phạt sau lại tiếp tục hoành hành vương quốc này. Nhưng nếu
theo phương pháp sau đây bọn giặc cỏ ấy sẽ được trừ diệt một cách hoàn toàn:
những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương
hãy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà
vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những
vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hãy cấp cho những vị
ấy vật thực và lương bổng. Và những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình
sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ
sẽ được an cư lạc nghiệp, không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui
vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng". - "Vâng,
Tôn giả"…
6. Xác định đức Phật là
vị toàn tri toàn kiến
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Phạm Võng trang 12
Này các
Hiền giả, thật kỳ diệu thay! Này các Hiền giả, thật hy hữu thay! Thế Tôn, đấng
Toàn Tri, Toàn Kiến, đấng A-la-hán, bậc Chánh Ðẳng Giác, đã thấu hiểu sự xu
hướng sai khác của chúng sanh.
7. Lời di
chúc của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết bàn
Kinh Trường Bộ 1, Kinh
Đại Bát Niết Bàn, trang 583~584
Này
Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh
pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này
Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn
giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những ai nghĩ rằng: "Như
Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như
Lai" thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda,
Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo
chịu sự giáo huấn của Ta" thời nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo
cho chúng Tỷ-kheo? Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến
tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ
còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự
sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai
không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô
tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
Vậy nên,
này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính
mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp
làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo
hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không
nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Kinh Đại Bát Niết Bàn,
trang 613~614
Này các
Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi
phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường
tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng
thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài
Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các
Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho phạm hạnh được
trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và
loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực,
Bảy Bồ-đề phần, Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này do Ta
chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và
truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời
và loài Người.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
Này các
Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn
lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm
nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Kinh Đại Bát Niết Bàn,
trang 662~663
Lúc bấy
giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda: Này
Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: "Lời nói của bậc Ðạo sư không
còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư (giáo chủ)". Này Ananda, chớ có những tư tưởng
như vậy. Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta diệt
độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của các Ngươi. .
Lời khuyên
của đức Phật về vấn đề lý giải lời dạy của ngài
Kinh Trường Bộ 2, Kinh
Thanh Tịnh, trang 460….
Do vậy,
này Cunda, những pháp do Ta tự chứng tri và tuyên bố cho các Ngươi, tất cả các
Ngươi hãy hội họp lại và tụng đọc lại, chớ có cãi lộn nhau, nhưng hãy so sánh
các nghĩa với nhau, các câu với nhau để cho phạm hạnh này được tồn tại lâu dài,
được an trú lâu dài, vì hạnh phúc cho muôn loài, vì an lạc cho muôn loài, vì
lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và cho loài
Người….
Này Cunda,
các Ngươi hãy hội họp với nhau trong tinh thần hòa đồng và tương kính, không có
tranh luận nhau. Có vị đồng phạm hạnh nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi
nghĩ rằng "Vị Ðại đức này nắm nghĩa sai lạc hay hành văn sai lạc", các Ngươi
không nên tán thán, không nên bác bỏ. Không tán thán không bác bỏ, các Ngươi nên
nói với vị ấy: "Này Hiền giả, với nghĩa này,
cách hành văn này hay cách hành văn kia, cách nào thích hợp hơn? Giữa những cách
hành văn này, nghĩa này hay nghĩa kia, nghĩa nào thích hợp hơn?"…
Lại nữa
này Cunda, có vị đồng phạm hạnh khác nói pháp giữa Tăng chúng. Nếu các Ngươi
nghĩ rằng: "Vị Ðại đức ấy nắm nghĩa sai lạc nhưng hành văn đúng